VietMaiSau Network
Untitled 1

Xóm Nhà Lá - Chợ Nhỏ Nói chuyện trên trời dưới đất, hội 888, tha hồ tán dóc, mời vào ;-)

Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay

Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay

Thống kê đề tài: Bài viết có 59 lần trả lời và 2880 lần xem!

Chú ý: Nếu bạn thấy bài viết hay, có ý nghiã và muốn cám ơn. Xin vui lòng bấm vào nút "Thank you" nằm ở góc dưới bên phải của bài viết.

  Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
Ðiều Chỉnh
Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
vietnamyeudau

Status: Offline

Nhóm: VMS Member
Tham gia: May 2010
Đến từ:
Bài gởi: 5
vietnamyeudau's Avatar

Đã cám ơn:: 0
Thanked 1 Time in 1 Post

User's Level
Level: Level: 2 - Class: None
EXP: 14/20 (70%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 05-10-2010, 10:42 PM      Show Printable Version]   Email this Page to a Friend     #51

 
Dân chủ, nhân quyền mà phương Tây hay gào thét là đâu Jul 1, '09 12:18 AM
for everyone
(Mr Ken xin trích lược từ bài viết đầy đủ của tác giả Thiên Lôi)


...nhân dân độc lập ở các nước Á châu không thể quên được lịch sử cận đại tang thương khi xứ sở họ, dân tộc họ đã từng bị bị tây phương đô hộ nô lệ hoá hết sức dã man trong thời kỳ thuộc địa. Họ phải hy sinh đánh đổi bao xương máu mới giành được độc lập tự chủ ngày nay, không lý gì lại lắng nghe những lời đạo đức đường mật của chính kẻ mới ngày nào đã tàn sát bóc lột nhân dân mình thậm tệ; tựa như con chó sói nham hiểm trùm mền đóng vai lão bà hiền lành trên giường để chờ nuốt sống cô bé choàng khăn đỏ...

THỨ VŨ KHÍ MÀ PHƯƠNG TÂY HAY SỬ DỤNG

Dĩ nhiên ai mà chẳng muốn quyền con người được đề cao và bảo vệ; ai chẳng muốn được hưởng tự do và dân chủ nhưng vấn đề ở đây là tây phương chỉ dùng chúng như là những chiêu bài và vũ khí chính trị để lấy cớ xía vào nội tình thiên hạ mà nhờ vậy đám dân Chúa Vịt ở các xóm đạo hải ngoại mới có việc làm cho qua ngày tháng. Chỗ nào tây phương chưa kéo quân vào “xâm lăng” được thì tạm chơi trò nhân quyền, dân chủ, tự do. Mỹ từ nào cũng có cái mặt trái nham hiểm nếu kẻ dùng nó có một động cơ đen tối mà không bị vạch trần. Hình như định nghĩa của những danh từ trên còn tùy thuộc vào quan điểm chính trị của từng vùng, nên có sự hiểu biết khác nhau. Khi ứng dụng thì tây phương chẳng hề có thái độ vô tư hay công bình với mọi nơi mọi tình huống. Phe ta thì lờ, phe địch không lơ. Vì thế mà những lời lên tiếng của tây phương về đòi hỏi tự do, học đòi dân chủ và tôn trọng nhân quyền ngày nay không còn giá trị chút nào, lại còn bị phản cảm.

1. Kêu gào Tự Do:

Khi tây phương kêu gọi tự do thì hãy xem tự do ở tây phương là gì? Ấy là sự tự do để nhóm đại tài phiệt tha hồ gom tư bản kết sù vào tay họ với lòng tham vô bờ bến, rồi giành mọi đặc quyền đặc lợi tạo ra một loại siêu chính phủ quyết định mọi việc sinh tử của nhân loại; biến mọi việc trên đời đều là việc kinh doanh cả. Chính phủ và thể chế được lập ra đều đã được nhóm đại tài phiệt kia “đạo diễn” để thi hành ý muốn của nhóm chủ nhân ông giấu mặt. Nhóm đại tài phiệt này luôn tìm cách vươn vòi bạch tuộc dài ra khắp thế giới để dễ bề thống trị tựa như một đế quốc hoàn vũ, tựa như giáo hội của Vatican xưa kia. Chỗ này là điểm tương đồng cấu kết giữa hai tổ chức. Họ muốn thống trị thế giới nên luôn nói đến một “nền trật tự mới cho thế giới” (new world order), giống như mơ ước của cha ông từ thời đế quốc La-Mã.

Đối với người dân, ấy là sự tự do được cho phép trong khuôn khổ luật pháp qui định, mà luật lệ ràng buộc của các xã hội tây phương có thể nói là chằng chịt như rừng để luôn kềm tỏa nhân dân. Ngày nay, ở tây phương, bạn đừng có nằm mơ mà cao hứng đòi lên chốn thâm sơn cùng cốc để … tự do tu tiên xa lánh trần tục mà không bị nhà chức trách đến hỏi thăm … sức khoẻ ngay. Vì vậy, thời này vắng bặt thánh nhân trên trần đời chăng? Như thế tự do cho người dân ở tây phương có nghĩa là sự tự do đóng vai một công dân gương mẫu làm đầy đủ nhiệm vụ, lao động tốt và đóng thuế đủ từ khi sinh ra cho đến khi chết; tựa như con chim được chủ nuôi với đầy lương thực, tự do hót cho chủ vui tai và bay nhẩy… trong lồng. Có kẻ bảo ở tây phương chẳng cần đến “thẻ căn cước” như các nước nghèo khác. Đúng là họ văn minh lắm nên chỉ cần ban cho mỗi người một “số an sinh xã hội”, không ai giống ai. Dựa vào đó, nhất cử nhất động bạn làm gì hơi khác thường là Nhà nước đã biết ngay; cần gì phải có công an gác cửa? Hàng xóm thì chỉ vì quyền lợi cá nhân, thấy bạn có hoạt động gì lạ liền báo cáo cho nhà chức trách dù mỗi lần gặp bạn đều miệng lưỡi ngọt xớt “hai hay ba…i”; cần gì đến “mạng lưới tình báo nhân dân”? Ơ hay! Nhà cai trị nào lại chẳng mơ ước ban cho dân cái … tự do ấy. Cớ sao còn bảo các nước khác chưa có tự do?

Tù nhân trong nhà tù Guantanamo

Hay là tây phương thường tự hào về sự tự do giàu sang hào nhoáng của họ, nhưng ai đã sống ở xã hội này đều biết những thứ ấy đều là ảo tưởng. Nền tư bản đồ sộ của tây phương đã tạo nên luật trong đó có luật lệ thuế khóa để khuyến khích mọi người nên mắc nợ họ, ban đầu là tiền bạc rồi dần đến nghĩa vụ và ngay cả xương máu, để có được những điều mơ ước về vật chất. Ai cũng hãnh diện mang trong ví “thẻ thiếu nợ” bằng plastic để thoải mái tiêu dùng không cần biết đến hậu quả nợ nần. Người ta dễ quên câu nói: “Một khi bạn nhận tiền của kẻ khác, bạn đã là nô lệ của họ”. Gương các nước nhỏ nhận viện trợ của tây phương còn đó; và bây giờ trong giai đoạn suy thoái kinh tế, mọi âm mưu xấu xa của các đại tổ hợp tài chánh tây phương đã bị phơi bày. Cha ông ta thường dạy rằng “đói cho sạch rách cho thơm” hay “liệu cơm gắp mắm” là để cho con cháu không bị vướng vào vòng nô lệ của vật chất, sống theo khả năng của mình để được tự do thật sự; nhưng con cháu nào chịu nghe. Hạnh phúc của cuộc đời nào có phải đánh giá qua gia tài vật chất và tiện nghi kỹ thuật?

Hay họ muốn nói đến “tự do tôn giáo”? Có nghĩa là bắt các nước nhỏ phải để cho các đoàn truyền giáo Ki-tô có tổ chức qui mô và kinh tài đồ sộ du nhập vào o ép chiêu dụ dân bản xứ phải thay đổi nếp sống văn hóa tín ngưỡng nền nếp xưa cũ của người ta để theo độc thần giáo giống tây phương để dễ gom về một mối mà sai bảo theo kiểu “tuân phục trong vâng lời”? Cũng lạ, miệng họ đòi “tự do tôn giáo” nhưng lại bảo truyền thống của họ là độc thần Ki-tô giáo, không thể cải đổi được. Hay là chỉ muốn kẻ khác “tự do” đổi theo đạo Ki-tô mà thôi? Thực khó diễn giải chỗ này.

Trong một bài báo của Mark Lawson trên tờ The Guardian, Thứ bảy ngày 8/10/ 2005, cho biết là Nabil Shaath, nhà đàm phán người Palestine đã tiết lộ rằng chính cựu tổng thống Bush con đã từng tuyên bố trong một cuộc họp thượng đỉnh ở Jordan vào năm 2003 rằng “Chúa đã bảo ông ta, và gọi một cách thân mật là George, hãy xâm lăng Iraq và Afghanistan”. Đúng là một trò bịp lớn của thế kỷ 21.

Hình thức tra tấn “trấn nước” của Mỹ tại nhà tù Guantanamo bị lên án kịch liệt. Ảnh: THX

Điều này làm người ta nhớ đến chuyện ông Giáo Hoàng nổi danh quỉ quái trong Đệ nhị thế chiến là Pius XII, mà dân Chúa Vịt hay gọi là Pi-ô, thích chơi chính trị chống Cộng hơn việc Chúa, cũng đã kéo luôn bà mẹ của Chúa là bà Maria vào cuộc để khích động con chiên, hết phò Hitler làm lãnh tụ châu Âu cho đến khi Quốc Xã sụp tiệm liền quay qua hầu Mỹ làm cho thế giới càng ngày càng đảo điên. Cũng vì trót nghe lời Chúa rồi Mẹ Chúa (do Pi-ô phịa chuyện y như Bush con) nên năm 1954 đám dân Chúa Vịt đã kéo nhau chạy … như vịt vào nam Việt nam, hùng hổ xưng là Công Giáo; rồi đến 1975 lại tiếp tục kéo nhau xéo thục mạng ra các xứ tây phương. “Công Giáo” trở thành “Cong Giò”… bỏ chạy.

Bởi thế khi ở Mỹ xuất hiện một ông tổng thống cuồng tín mê Chúa tương tự thì mọi chuyện đều lại… nát như tương, uy tín của Mỹ đối với thế giới cũng xuống bùn đen. Càng mê tín và cuồng tín thì nhân loại càng khổ đau. Nhiều người tự hỏi nếu Bush con bảo luôn có Chúa bên cạnh, thì ai cấm Bin Laden, hay một tên ma cà chớp nào đó, cũng tự cho là luôn có Chúa của mình là Allah trong đầu, nên mới có chuyện 9/11. Vậy thì Chúa Ki-tô hay Allah, ông nào đã gây ra tội ác 9/11? Và nếu Chúa luôn đứng bên tổng thống Ki-tô thì tại sao không nhờ Chúa đem trận bảo Katrina, mà các công ty bảo hiểm gọi là “việc Chúa - act of God”, đổ ập lên Afghanistan cho tụi Al-Queda chết chìm hết có phải khỏe không; đánh đấm chi cho mệt. Tại sao trận bảo lại tàn phá một vùng rộng lớn của trên đất nước của con Chúa? Chỗ này mới là kẹt đa!

Nhiều nhà nhân chủng học khảo cứu các nền văn hóa tín ngưỡng hòa bình tự nhiên ở các hải đảo Thái bình dương đã không khỏi hối tiếc cho sự mai một hay biến dạng nền văn hóa tín ngưỡng cổ truyền của thổ dân trên các xứ “thiên đàng địa giới” này do các nhà truyền giáo Ki-tô tây phương gây ra trong các thế kỷ thực dân. Vậy vai trò của những tên gián điệp đội lốt giáo sĩ này có đáng bị kết án hay không?

Tín ngưỡng của một tôn giáo muốn thấm nhập vào một vùng đất nào để biến thành nền văn hóa bản địa phải trải nghiệm qua một thời gian khá dài và phải phù hợp với nhiều yếu tố nhân văn, thổ ngơi vv… cần thiết. Một giáo thuyết hình hành trong một bối cảnh du cư du mục vì đất đai cằn cổi không thể du nhập dễ dàng vào một xã hội định cư nông nghiệp, ngoài việc phải dựa vào vũ lực của các đế quốc để áp buộc. Một khi lưỡi gươm bị gẩy thì thập giá cũng đổ luôn. Nếu thực sự chơi trò “tự do tôn giáo” một cách quang minh chánh đại thì chưa chắc ai đã hơn ai. Hãy xem các nước như Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka, Ấn độ, Trung quốc vv… cũng chơi theo trò tự do tôn giáo ấy nhưng Ki-tô giáo bấy lâu nay có thu được mùa gặt lớn nào không? Tín đồ có tăng thêm được chút nào không?

Vì thế mà độc thần giáo Ki-tô vẫn không thể nào bám rễ vào các nền văn hóa Á đông được dù các nước này vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Ngay cả độc thần giáo Ki-tô khi sang vùng Trung đông cũng đã bị biến dạng để thích nghi thành Islam, vì người Ả Rập muốn bảo toàn văn hoá và nếp sống đặc trưng của họ.

Tự thân của tôn giáo không tàn ác, nhưng một khi đã bị chính trị hoá biến thành một tổ chức giáo hội để phục vụ tham vọng trần gian thì nó đã bị vong thân trở thành dụng cụ hữu hiệu trong tay kẻ nham hiểm. Đó cũng là sự khác biệt đậm nét giữa Giáo Hội Ca-tô Rô-ma và các giáo hội Ki-tô Độc thần giáo khác như Anh Giáo, Tin lành và Chính thống giáo. Vatican ngông cuồng cho là giáo hội “quốc tế”, còn những giáo hội kia chỉ là giáo hội “quốc doanh” mà thôi; và dân tộc họ rất hảnh diện về điều đó. Vatican thì lo nhiều về chính trị hơn tôn giáo; còn các giáo hội bản xứ kia thì lo nhiều về tôn giáo hơn chính trị.

2. Đòi hỏi Dân Chủ:

Có khá nhiều định nghĩa về dân chủ. Thông thường thì Dân chủ là một thể chế mà quyền thay đổi luật pháp và cơ cấu chính quyền thuộc về người dân có quyền bầu và ứng cử.

Việc bầu cử, tự nó, không phải là một điều kiện đủ cho nền dân chủ tồn tại; vì đã có nhiều thế lực đã sử dụng đủ loại mánh khóe, và hiệu quả nhất không gì bằng dùng tiền và quyền mua chuộc ứng cử viên hay cử tri hay những kẻ lãnh đạo một cộng đồng nào đó để làm thay đổi kết quả bầu cử.

Trong thực tế là trong đại biểu dân chủ, sự tham dự của các phe phái chính trị sẽ khiến cho các đại biểu phải tuân theo đường hướng của đảng, thay vì đi theo ý muốn của cử tri hoặc chính lương tâm. Một khó khăn đang thấy trong các nền đại biểu dân chủ là phí tổn ngày càng cao của các mùa tranh cử, khiến cho ứng cử viên phải thương lượng với người giàu mua chuộc luật có lợi cho họ.

Như thế, thể chế dân chủ là Thể chế đa số (majoritarianism), từ đó dễ dẫn đến Đa số chuyên chế; và như thế thì một chế độ dân chủ tự do có thể bầu lên những đại biểu và họ có thể đàn áp nhóm thiểu số (tôn giáo, chính trị, v.v.) nào đó, bằng cách trực hay gián tiếp. Hoặc ngược lại với những mánh mun và các thương lượng về quyền lợi với Vatican, Adolf Hitler đã chẳng bao giờ chiếm được đa số phiếu, nhưng lại đạt được tổng số phiếu của các phe thiểu số nhiều nhất trong nền dân chủ Cộng hòa Weimar năm 1933, vì thế gọi là chuyên chế của một thiểu số. Sau khi nắm được quyền lực y liền hủy bỏ hệ thống dân chủ và áp đặt chế độ fascism độc đảng.

Avro Manhattan đã viết về vai trò khuynh đảo của Vatican: “… Đức Ông Pacelli (Giáo hoàng Pius XII trong tương lai), bấy giờ là trợ tá lão thành bên sau giáo hoàng Pius XII, đã bảo trợ một sách lược ủng hộ chủ nghĩa Phát-Xít tại Ý và rồi Quốc Xã tại Đức (cốt để chống lại sự đe doạ của phong trào Cộng sản đang lớn mạnh khắp châu Âu). Ông ta đã giúp Hitler nắm được quyền lực vào năm 1933 bằng cách đã kêu gọi Đảng Ca-tô Đức bầu cho Hitler vào cuộc tổng tuyển cử cuối vào năm 1933.”


Nhân quyền (?) của Mỹ ở trại tù Abu-Ghraib !

[Only registered and activated users can see links. ]


Hình này được công bố năm 2006 cho thấy nhiều tù nhân người Iraq bị phủ đầu. Người ta thấy trên đùi của một người có viết mấy chữ "Tôi là người hiếp dâm"



Lính Hoa kỳ chuẩn bị đấm những người tù bị trói và bịt đầu



Hai người lính Hoa kỳ đứng sau những tù nhân Iraq chất chồng lên nhau, và đưa ngón tay cái lên tỏ ra đắc thắng


Người ta hay ca tụng nền dân chủ tây phương hiện nay là hệ thống dân chủ cho phép dân chúng có quyền thay đổi giới cầm quyền mà không cần thay đổi căn bản luật pháp của chính thể tức Hiến pháp. Điều này có thể giảm bớt những bất trắc và bất an chính trị hơn là thay đổi chính trị bằng bạo động. Nhưng ta cũng không nên quên bộ máy công lực trấn áp siêu hiệu lực những mầm mống hổn loạn ngay từ trứng nước để không bùng nổ lớn được; nó đã góp một phần không nhỏ trong tiến trình “dân chủ hoá” này. Vì các nước nhỏ chưa kiện toàn được bộ máy trấn áp một cách dứt khoát vì sự ổn định của xã hội nên thường là đối tượng để tây phương tìm cách gây rối loạn qua việc kêu gào “nhân quyền, tự do, dân chủ”.

Còn nền Dân chủ ở Việt Nam hiện nay theo điều 4 Hiến pháp 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của xã hội. Theo Hiến pháp thì người dân Việt Nam bầu ra Quốc hội là những người đại diện cho dân để họ bầu ra chủ tịch nước và chính phủ. Nền dân chủ này dĩ nhiên chưa phải là hoàn hảo nhưng tạm thời là cần thiết để ổn định xã hội để người dân rồi sẽ tìm ra được một thể chế tốt đẹp, hợp với nếp sống và văn hóa của mình mà không bị xáo trộn bởi những âm mưu xâm lấn phá hoại của các thế lực từ bên ngoài.

Dân chủ tây phương cũng đã phải trãi qua biết bao thăng trầm lịch sử lâu dài, và tự mình quyết định chứ không do một thế lực ngoại bang nào ép buộc. Vì thế đối với các nước nhỏ đang phát triển, không phải một sớm một chiều mà thiết lập được một nền cai trị như thế. Muốn thực hiện được nền dân chủ lý tưởng thì cần phải tạo lập một nền văn hoá dân chủ vững chắc với một đời sống xã hội sung túc. Nếu không chỉ là một trò hề kệch cỡm của hình ảnh một chị nông dân mặc áo bà ba chân mang giày cao gót ra thăm ruộng; chắc chắn bước đi thế nào cũng bị vấp ngã thê thảm. Hãy cho dân cơm no áo ấm trước đã, rồi dân chủ sẽ lò dò theo sau không muộn.



Lính Mỹ tra tấn tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib (ảnh tư liệu của AFP)


Nhưng đi sâu vào thực tế thì nền Dân chủ của tây phương cũng không phải là toàn bích gì. Giới đại tài phiệt với tiền rừng bạc biển đã hủ hóa mua chuộc mọi cuộc bầu cử và ứng cử viên mình muốn. Với sự hổ trợ của các giáo hội Ca-tô La mã và Tin Lành đã khéo tổ chức tín đồ theo từng khối đồng nhất và có truyền thống hợp tác với họ từ lâu đời thì thể chế của đa số là điều như ý. Thương lượng làm ăn chia chác với vài anh hồng y hay hắc y cán bộ lãnh đạo hay mục sư có phải dễ hơn là với quần chúng tạp nhạp không?

Ở Mỹ dân chủ là thế, nhưng với nước ngoài một khi chú Sam không còn nhẫn nại được nữa khi quyền lợi của chú bị đe doạ trên thế giới là chú coi dân chủ chỉ là tờ giấy lộn; chú liền ra tay lật đổ các chính quyền nước khác như cơm bửa. Stephen Kinzer đã viết trong cuốn “Overthrow” ấn hành năm 2007 rằng chỉ trong vòng hơn một thế kỷ kể từ 1893 bắt đầu từ việc hạ bệ nữ hoàng Liliukokalani của Hawaii, Hoa Kỳ đã cho đi chầu Chúa, mà họ gọi nhẹ nhàng là regime changes, hơn 14 chính quyền hợp pháp của các nước khác bất chấp công luận thế giới khi quyền lợi của Mỹ bị trở ngại, trong số đó có cả Diệm Nhu, nạn nhân của một chế độ tay sai phản chủ. Không phải Mỹ chỉ dùng CIA, quân đội, tiền bạc, chính khách, nằm vùng, giáo sĩ vv… vào việc này mà còn sử dụng cả nhà báo, học giả, doanh gia. Ai bảo chỉ Cộng sản mới nói câu “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”? Đó mới chính là trò chơi “dân chủ” của tây phương.

3. Tôn trọng Nhân Quyền:

Khi tây phương kêu gọi Nhân Quyền hay Quyền Con Người (Human Rights), ai cũng liền nghĩ đến Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp quốc. Bản Tuyên ngôn nầy đã đưa ra những quan điểm về các quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền tự do và an ninh thân thể, quyền tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo, quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm...

Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ là một khuôn mẫu chung (framework) cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Điều khoản cuối cùng không kém phần quan trọng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".

Để giảm nhẹ bộ máy hành chánh và họat động hữu hiệu hơn, Hội đồng Nhân quyền LHQ, được thành lập ở Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005 thay thế Ủy ban Liên hiệp Quốc về Nhân quyền (United Nations Commission on Human Rights), có nhiệm vụ điều tra sự vi phạm nhân quyền. Hội đồng Nhân quyền, có trụ sở tại Geneva, là một cơ cấu trực thuộc Đại Hội đồng Liên hiệp Quốc và báo cáo trực tiếp với tổ chức này. Nó được xếp dưới Hội đồng Bảo an. 47 quốc gia trên 191 ghế thành viên trong Hội đồng được bầu thông qua hình thức bỏ phiếu kín theo nguyên tắc đa số tương đối (trên 50%) ở Đại Hội đồng. Các thành viên phục vụ tối đa 6 năm và có thể bị đình chỉ nếu vi phạm nhân quyền. Cho đến nay các nước bị tây phương thường xuyên kết án vi phạm nhân quyền vẫn còn tại vị, trong khi Hoa Kỳ lại tẩy chay và không được bầu vào Hội đồng vì cùng với Do thái, luôn bị chỉ trích về các tội ác gây ra ở Trung đông. Mãi đến nay, dưới thời của Obama, Hoa Kỳ mới chịu tái tham gia kể từ tháng 6, 2009.

Ai cũng cho rằng Nhân quyền khởi xướng từ tây phương. Bé cái nhầm. Đừng có thấy sang bắt quàng làm họ. Không, hiến chương đầu tiên của nhân quyền thế giới đã có manh nha trong các bộ luật cổ đại và các nền đạo học của các nền văn minh xưa của nhân loại. Tạm thời ta có thể dựa vào các khảo cứu gần đây cho thấy rằng Bộ luật cải cách, của Urukagina thành phố Lagash, được biết đến sớm nhất (khoảng năm 2350 TTL); Bộ luật cổ nhất hiện còn sưu tầm được là Neo-Sumerian Luật Ur-Nammu (khoảng 2050 TTL). Một số bộ luật khác cũng được ban hành ở Mesopotamia, gồm Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 TTL). Nó có các luật, và hình phạt nếu những luật này bị vi phạm ở nhiều khía cạnh khác nhau, kể cả nữ quyền, quyền trẻ em, và quyền của nô lệ.

Một bộ luật nổi danh khác mang ít nhiều dấu vết tư tưởng Nhân Quyền ngày nay là từ thời hoàng đế Cyrus Đại đế (559-530 TTL), người Á Rập, sáng lập ra đế quốc Persia (nước Iran ngày nay) và tạc trên một trụ đá nay được gọi là Trụ Cyrus. Mãi đến năm 1215, Hiến chương Magna Carta của người Anh có những ý tưởng tương tự lần đầu tiên được công bố. Rồi đến sau cuộc cách mạng Pháp 1789, có thêm một bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền có nội dung tương tự. Các bản Hiến chương này có ảnh hưởng đến sự phát triển của thông luật (common law) và hiến pháp như bản Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là Đạo luật Nhân quyền (Bill of Rights). Cũng đừng quên nước ta dưới triều Lê sơ khoảng thế kỷ 15, cũng đã có một bộ luật qui định quyền dân sự khá hoàn chỉnh là Bộ Luật Hồng Đức.

Đối với tây phương, chỉ sau hai trận thế chiến với những vi phạm Nhân quyền quá tệ hại họ mới khẩn thiết tái xác định các quyền ấy qua bản Tuyên ngôn LHQ năm 1948 như ta đã biết. Nhưng như đã nói, những điều liệt kê trong bản tuyên ngôn rất lý tưởng nhưng có mấy nhà cầm quyền thực thi chúng.

Nhân quyền của tây phương đối với nước ngoài:

Bấy lâu nay, các tổ chức nhân quyền … thường tự cho là vô tư khi họ lớn tiếng kêu gọi thực thi Nhân Quyền đối với mọi quốc gia vi phạm. Vậy thì họ ở đâu khi các dân tộc bản địa Nam Mỹ bị bóc lột tận xương tuỷ bởi các chủ nhân ông tài phiệt tây phương? Hoặc khi dân tộc Palestine ở Liban, Gaza, West Bank bị Do thái và tây phương đối xử như súc vật, nhất là trận tàn sát đàn bà và trẻ con tay không tất sắt ở Jenin năm 2004? Hoặc khi nhân dân Iraq và Afghanistan bị bom đạn tây phương sát hại hàng loạt mỗi ngày? Hoặc khi nhân dân châu Phi bị tây phương khinh bỉ bỏ quên chỉ vì kỳ thị chủng tộc, phải sống trong nghèo đói triền miên dưới sự chăn dắt của các hồng y và hắc y đạo sĩ cán bộ; và bắt họ chỉ được quyền làm “con chiên” chứ không được quyền làm người? Hoặc khi các vụ bạc đãi hiếp dâm giáo dân già trẻ nam nữ lớn bé của các giáo sĩ Ki-tô ở các nước phương tây cũng chỉ được bộ máy truyền thông tuyên truyền tây phương làm rùm beng một lúc rồi cho chìm xuồng? vv…


Trong cuộc chiến chống “bọn khủng bố” ở Iraq và Afghanistan, khởi xướng bởi đám “tân bảo thủ thân Do Thái” trong chính quyền Bush con, càng ngày càng bị sa lầy tựa như chiến tranh Việt Nam; nhất là sau khi những chuyện đối xử tù nhân Muslims như súc vật, nhiều khi tù nhân bị chết trong khi bị tra khảo trong nhà tù kinh khiếp Abu Ghraib, và những tù nhân bị giam không có ngày xét xử ở Guantanamo Bay, đã làm uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới suy giảm trầm trọng và dân chúng Mỹ thất vọng nãn lòng không còn nhiệt tình ủng hộ nữa; tựa như các hình ảnh dã man của vụ Mỹ Lai bị phanh phui trước đây trong cuộc chiến Việt Nam.

Vì mục đích và quyền lợi riêng của mình mà Mỹ khinh thường những cam kết luật lệ quốc tế (tựa như Việt Nam sau hiệp định Geneva 1954), Mỹ đã không hề đếm xĩa gì đến những điều khoản cấm kỵ qui định bởi các Qui Ước Geneva về đối xử với tù binh mà mình đã nhúng tay ký kết bằng cách thuê những luật sư phe ta giải thích luật lệ theo chiều mình muốn và Ngũ Giác Đài lại phát hành những Cẩm nang Thẩm vấn lắt léo cho các cấp an ninh lách luật.

Những kiểu Nhân Quyền của các nước "văn minh" !

Nhân quyền (?) của nước Pháp để lại ở VN

Một số các nhà yêu nước của ta bị giam trong Xà lim ngầm trong nhà tù Sơn La, Bắc Việt do Pháp xây


Nhân quyền (?) của Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam

Hầm số 5 của Khu biệt giam Chín Hầm ở Trung Việt do chế độ nhà Ngô giam những người chống chế độ


Nhân quyền (?) người Pháp xây ở VN

Một số các nhà yêu nước của ta bị bắt trong Chuồng cọp ở Côn Đảo do Pháp xây


Còn đối với người dân Palestine vô tội thì sao? Ngay cả cựu tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã phải thốt lên sau khi đi thăm vùng Gaza nghèo khó vào ngày 15/6/2009: “Hôm nay, cảm giác chính của tôi là buồn bả, thất vọng và một chút căm giận khi tôi nhìn thấy sự tàn phá nhắm vào người dân vô tội. Thực là bi đát khi cộng đồng thế giới thường làm ngơ trước tiếng kêu cầu cứu và người dân Palestine bị đối xử như con vật hơn là con người. Một triệu rưỡi con người bị tước đoạt mọi nhu cầu tối thiểu – chưa từng thấy trong lịch sử như cộng đồng lớn này đã bị bằm nát bởi bom đạn và hỏa tiển, rồi bị khước từ được tái xây dựng.”

Đó có phải là tinh thần mong muốn của điều tự do ngôn luận trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền hay không?

Âu Mỹ đã làm ngơ cho Do Thái xem thường các nghị quyết của HĐBA-LHQ trong suốt 30 năm, buộc Do Thái phải rút ra khỏi West Bank và Gaza; trong khi đối với các nước nhỏ khác thì họ lại lớn giọng đòi trừng phạt bằng bom hay phong tỏa kinh tế vì không tuân theo các nghị quyết của LHQ. Lại khi muốn diệt Iraq thì ngang nhiên xâm lăng lật đổ chính phủ rồi còn sát hại cả nhà lãnh đạo nước này là Saddam Hussein mà chẳng cần đến công pháp quốc tế.

Riêng đối với đám phản động hải ngoại; mạng lưới nhân quyền của họ ở đâu khi đất nước Việt bị thôn tính và dân tộc Việt bị ép làm nô lệ bởi bọn thực dân Pháp và đạo phiệt Vatican trong suốt một thế kỷ? Rồi sau 1954, nhân dân và nhất là Phật tử ở Nam Việt nam bị chà đạp kỳ thị, bị sát hại không nương tay hơn 20 năm bởi các chế độ Ca-tô? vv… Có thể bọn này sẽ bảo những nổi tang thương ấy không phải là vi phạm Nhân Quyền, hoặc rằng lúc ấy chưa có Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1948 nên họ thiếu hướng dẫn cho nên “bề trên” của họ muốn làm gì thì làm như đã từng đày đoạ nhân dân châu Âu hơn 15 thế kỷ, hoặc rằng lúc ấy họ chưa có mặt trên đời nên không biết?

Cho thấy chỗ nào còn có sự bóc lột của tây phương và của đạo phiệt Vatican thì chỗ ấy bị vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Nhưng họ lại chơi trò “cả vú lấp miệng em” xoi mói chuyện vớ vẩn nội bộ của các nước nhỏ.

Đầu tháng 6 năm nay, Obama sang châu Âu dự lễ kỷ niệm 65 năm ngày D-day tức là ngày quân Anh-Mỹ đổ bộ lên nước Pháp để gỉải phóng châu Âu khỏi sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã nhưng chẳng thấy nhà lãnh đạo tây phương nào đê cập đến những tội ác không kém của bọn hồng y và hắc y đạo sĩ cán bộ của Vatican, trong đó có cả Giáo Hoàng Pius XII. Vì sao? Vì họ còn cần đến tổ chức nham hiểm này trong việc toàn cầu hóa ảnh hưởng của tây phương tựa như các đế quốc của tổ tiên họ, bởi Tin Lành không có một tổ chức khuynh đảo tinh vi như Vatican.

Nhân quyền của tây phương trong chính nước mình:

Những vết nhơ của nó không hề bị bộ máy thông tin tuyên truyền đồ sộ của họ đề cập đến. Cứ nhìn vào cuộc sống khốn khổ của thổ dân da đỏ bị bỏ rơi cô lập trong các vùng tập trung (reservation areas), hay nghe tiếng gào của các nạn nhân của các giáo sĩ Ca-tô loạn dâm, hay nhìn những ánh mắt căm hờn của dân da đen trong các ghettos vv… thì thấy “nhân quyền” của tây phương như thế nào.

Nói có sách mách có chứng, xin đọc một trích đoạn lời kêu gào thực thi nhân quyền của dân da đen tiêu biểu đăng trên tờ The Final Call Vol. 28, No. 11, Dec. 23, 2008, phát hành ở Chicago:

1. We want freedom. We want a full and complete freedom.
2. We want justice; Equal justice under the law. We want justice applied equally to all, regardless of creed or class or color.
3. We want equality of opportunity. We want equal membership in society nith the best in civilized society.

4. We want freedom for all black men and women now under death sentence in innumerable prisons in the North as well as the South.

5. We want an immediate end to the police brutality and mob attacks against the so-called Negro throughout the United States.
6. As long as we are not allowed to establish a state or tenitory of our own, we demand not only equal justice under the laws of the United States, but equal employment opportunities - NOW!

7. We do not believe that after 400 years of free or nearly free labor, sweat and blood, which has helped America become rich and powerful that so many thousands of black people should have to subsist on relief, charity or live in poor houses, receive some of the worst treatment of human beings. Since we cannot get along with them in peace and equality, we believe our contributions to this land and the suffering forced upon us by white America, justify our demand for complete separation in a state or territory of our own.

(The Most Honorable Elijah Muhammad)

Nhân quyền ở các nước Á châu có phần suy thoái chăng khi tây phương lên tiếng? Không, chẳng qua là vì các dân tộc Á châu đã học được bài học thuộc địa nên nay luôn cảnh giác các trò ma mãnh của tây phương, khi bọn thực dân mới chưa dùng đến bom đạn súng ống, tìm đường tái xâm nhập. Họ đã biết vận dụng nền đạo học và văn hoá thâm hậu của mình làm sức đề kháng chống lại các mưu toan ấy.

LỜI KẾT:

Khi bọn người chuyên đi cướp đất người khác đã tàn sát và đày đọa dân bản địa trong vòng nô lệ lâu dài, nay lại bày đặt nói chuyện nhân nghĩa, nhân quyền, tự do, dân chủ vào thời đại không thể nào tái diễn chính sách thực dân thì các lời ngoa ngôn xảo ngữ ấy có đáng được trân trọng không? Tựa như một giáo hoàng đến mãi thế kỷ 20 mới lên tiếng xin nhân loại tha thứ cho bảy núi tội lỗi mà tổ chức gian ác của mình đã phạm phải trong suốt gần hai ngàn năm phỏng có tác dụng gì? Hay cũng chỉ là trò chơi chính trị tựa như những quảng cáo hàng hóa ta thấy hàng ngày trên các kênh TV ở tây phương?

Càng xem càng phát ghét cho cái lối nói xạo không hề biết ngượng. Nó cũng phản ảnh lối sống của tây phương “xạo hết chỗ nói”.

Nhưng đối với đông phương, đạo đức giả không thể qua mặt được những dân tộc có nền văn minh và đạo học lâu đời. Những dân tộc này dùng tín ngưỡng để tự sửa mình vui người chứ không kết cấu nó thành một chủ thuyết để đi cướp của giết người mang vẫn hãnh diện nhân danh thần thánh.

Điều mà dân ở các nước nhược tiểu mong chờ ở tây phương hiện nay có lẽ là đừng nên xía vào chuyện nội bộ của nước khác dù dưới bất cứ danh nghĩa gì. “Mind your own business – MOB”. Họ nên hoàn hảo những khiếm khuyết vẫn còn có trong đời sống đạo đức xã hội hàng ngày ở nước họ. Nếu hay thì tự thành tấm gương để người dân nước khác bắt chước mà không cần phải bị ép buộc. Người đông phương thường có câu: Hữu xạ tự nhiên hương!

Rốt lại, kêu gọi thực thi nhân quyền, tự do, dân chủ là điều nên làm một khi mình làm với một tinh thần vô tư không bè phái phi chính trị. Nhưng nếu mình dùng nó như một vũ khí chính trị hầu mong can thiệp vào nội bộ nước khác thì nó bị hoàn toàn phản ứng ngược thê thảm. Vì sao? Vì nhân dân độc lập ở các nước Á châu không thể quên được lịch sử cận đại tang thương khi xứ sở họ, dân tộc họ đã từng bị bị tây phương đô hộ nô lệ hoá hết sức dã man trong thời kỳ thuộc địa. Họ phải hy sinh đánh đổi bao xương máu mới giành được độc lập tự chủ ngày nay, không lý gì lại lắng nghe những lời đạo đức đường mật của chính kẻ mới ngày nào đã tàn sát bóc lột nhân dân mình thậm tệ; tựa như con chó sói nham hiểm trùm mền đóng vai lão bà hiền lành trên giường để chờ nuốt sống cô bé choàng khăn đỏ.

Các dân tộc này nào phải ngu dại như các thế kỷ trước. Họ nhận ra rằng thà hy sinh đi một chút nhân quyền, tự do, dân chủ để đánh đổi lấy nền độc lập, tự chủ, sự toàn vẹn bản sắc dân tộc hơn là “cõng rắn vào cắn gà nhà, đem voi về giầy mã tổ” chỉ vì nhân danh văn minh tiến bộ.

Muốn sống chung hòa bình, có lẽ tây phương nên bỏ bớt cái tánh kiêu ngạo bắt nạt mọi người, lại còn phải học hỏi nghiên cứu rất lâu mới hiểu được triết lý nhân sinh và đạo lý của đông phương.

Tây phương với tiền của dồi dào cướp được trong thời thuộc địa, nay quyết dùng nó vào việc lũng đoạn nội tình nước khác, nhưng họ còn phải biết đối với nhân dân các nước nhỏ vũ khí còn lại mạnh mẽ duy nhất là “mãnh lực của lòng ái quốc bằng hy sinh”. Nó có sức đối kháng không kém phần hiệu quả so với đồng tiền. Tiền lắm khi mang hậu ý đen tối xấu xa, nhưng lòng ái quốc thì chắc là trong sáng.

Có lẽ tây phương rất thắc mắc vì sao trong quá khứ họ đã “bách chiến bách thắng” qua sách lược dùng đạo (Ki-tô) tạo đời đã thống trị được châu Âu, tóm lấy bắc Mỹ, rồi nam Mỹ, vươn qua châu Phi, giật lấy châu Úc; nhưng khi đến châu Á lại bị chận lại ở ven rìa bán khai Phi luật Tân? Họ chắc không ngờ một vùng đất xem ra kém mở mang lại có thể đề kháng lại được sức mạnh kỹ
thuật cơ khí của mình. Có một lực cản trở nào đó cần phải tìm hiểu cho tường tận. Hay vì vùng này còn có các nền đạo học và văn minh vượt trội xa hơn nền văn minh Ki-tô mà tây phương thường hãnh diện?

Chúng đã có thể hoá giải được rất nhiều vấn nạn mà sinh tồn qua bao thời đại tiền thực dân. Có lẽ vì thế mà ngày nay, tây phương đang du nhập và cố nghiên cứu xem tinh tuý nằm ở chỗ nào của các đạo giáo Đông phương mà chủ yếu là Phật và Ấn giáo, để khéo vận dụng vào việc xâm nhập Á đông.

Câu hỏi lớn sẽ được đặt ra: “Các cố đạo, giáo sĩ Ki-tô đã bất lực trong việc bành trướng ảnh hưởng của tây phương ở vùng đất này; tại sao lại không dùng ngay chính những tăng sĩ và đạo sĩ đã được đào tạo ở đây để tái xâm nhập vào cộng đồng ấy?” Từ lâu, tây phương đã nuôi dưỡng nhiều tổ chức giả danh Phật giáo của dân tị nạn từ các quốc gia Á châu, nhất là Việt Nam, Tây Tạng, Trung Quốc để làm bình phong chống đối lại chính phủ tương ứng. Nay đã có khá nhiều anh “đầu tròn áo vuông” thuộc nhóm dân thiểu số Á châu tị nạn đã và đang hăng say gia nhập vào hàng ngủ của các thành phần này, nhưng chưa làm nên đình đám gì. Nhưng mưu đồ bành trướng của tây phương là một sự đầu tư lâu dài, có thể chờ đợi được. Không vội.

Dù bọn lưu vong phản động ở các xóm đạo Vịt hải ngoại tiếp tục nhai lại điệp khúc của bài hát đòi “nhân quyền, tự do, dân chủ” soạn bởi đấng bề trên tây phương; bỗng một bản tin mới nhất của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) vào ngày 4/6/2009 cho hay Việt Nam đứng thứ 39việc tôn trọng quyền con người, số các vụ giết người, số người bị cầm tù, tổng lượng mua bán vũ khí và mức độ dân chủ. New Zealand dẫn đầu, và Mỹ đứng thứ … 83 ! Ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thì Malaysia đứng ở vị trí 26, tiếp đó là Indonesia 67, Philippines 114, Thái Lan 118 và Myanmar 126. trong danh sách các nước an toàn nhất thế giới theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu (GPI) năm 2009 do tổ chức phân tích kinh tế uy tín Economist Intelligence Unit (EIU) thu thập cho Viện Kinh tế và Hòa bình. Chỉ số GPI được đánh giá dựa vào các yếu tố như chiến tranh, xung đột,

EIU có uống lộn thuốc không đây? Hay là ba cái chuyện “nhân quyền, tự do, dân chủ” chỉ là đồ ruồi bu, nghe qua rồi bỏ, đừng nên bận tâm vô ích.

Đây là Abu Ghraib

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
The Following User Says Thank You to vietnamyeudau For This Useful Post:
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 05-12-2010, 11:39 AM   #52

 
Giáo sư người Mỹ gốc Việt được tài trợ nghiên cứu về HT Thích Quảng Đức


Trà Mi xin chào những người bạn của Tạp chí Thanh Niên trên đài VOA. Các bạn nào ở Sài Gòn nếu đi ngang qua ngã tư Nguyễn Đình Chiểu và Cách Mạng Tháng 8 quận Ba, hẳn có thấy một tượng đài tưởng niệm của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Các bạn trẻ Việt Nam ít nhiều gì chắc cũng đã nghe nhắc tới danh tánh của vị cao tăng được tôn vinh là Bồ Tát, người đã dũng cảm biến mình thành ngọn đuốc sống trong cuộc tự thiêu ngay tại góc đường này 47 năm về trước, để tranh đấu cho quyền tự do tín ngưỡng, chống lại sự đàn áp tôn giáo. Tuy nhiên, không mấy người trong thế hệ trẻ ngày nay biết rõ, hoặc lưu ý tìm hiểu về lai lịch, nguyên nhân, và ý nghĩa của sự kiện ngày 11/6/1963 từng làm rung động thế giới. Gần nửa thế kỷ sau, một giáo sư người Mỹ gốc Việt đã quyết định thực hiện một quyển sách bằng Anh Ngữ, nghiên cứu chi tiết về “vị thánh “tử vì đạo” này.

Tiến sĩ Nguyễn Tri Ân sang Hoa Kỳ định cư đã 30 năm nay, và hiện đang giảng dạy bộ môn Văn minh-Mỹ thuật Châu Á tại đại học Bates của tiểu bang Maines. Ông vừa nhận được khoản tài trợ trị giá 40 ngàn đô la dành cho công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, cũng như ảnh hưởng của sự kiện này trong công cuộc tranh đấu đòi quyền tự do và bình đẳng tôn giáo tại Việt Nam.

Đến với chương trình hôm nay, giáo sư-tiến sĩ Tri Ân sẽ cho chúng ta biết ý nghĩa, nội dung cuộc nghiên cứu của ông về cố Hòa thượng Thích Quảng Đức. Xin mời giáo sư Tri Ân:

Giáo sư Tri Ân: Đây là một công trình tôi đã để tâm 10 năm nay. Hòa thượng Thích Quảng Đức là một người Việt Nam được nhiều người nước ngoài biết tới về hình ảnh tự thiêu của Ngài, nhưng rất ít sách báo cũng như giới chuyên môn viết về Hòa thượng Quảng Đức.

Trà Mi: Ông có thể cho biết thêm công trình nghiên cứu này sẽ kéo dài trong bao lâu, các phương pháp tiến hành khảo cứu ra sao?

Giáo sư Tri Ân: Tôi có đọc các sách báo xuất bản ở Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt là tư liệu rất quý chưa bao giờ được công bố của giáo sư Lê Mạnh Thác. Cách đây 3 năm, tôi về Việt Nam đi thăm các ngôi chùa do Hòa thượng ngày trước trùng tu, trụ trì, hay xây dựng có lưu trữ rất nhiều tài liệu của Hòa thượng, từ sách báo, các bài viết, pháp y áo, kinh sách của Hòa thượng để lại. Những tài liệu này chưa bao giờ được công bố, ngay cả ở trong nước. Nói chung, có ba phương thức. Thứ nhất, đi nghiên cứu thực tế ở Việt Nam qua một số công trình từ miền Trung, đến Sài Gòn, đến Cai Lậy. Thứ hai là đọc tư liệu. Ngoài ra, tôi cũng phỏng vấn một số nhân vật lịch sử liên quan. Nhanh nhất là một năm quyển sách sẽ hoàn thành, và cuộc nghiên cứu bắt đầu từ cuối mùa hè này.

Trà Mi: Là một người đang giảng dạy tại Mỹ, quan tâm nghiên cứu đến một câu chuyện xảy ra cách nay gần 5 thập niên, giáo sư có thể chia sẻ thêm về ý nghĩa cuộc nghiên cứu này, cũng như thông điệp mà ông muốn gửi gắm qua đó là gì?

Giáo sư Tri Ân: Qua một số báo chí, người Mỹ chỉ biết Hòa thượng là một hình ảnh tự thiêu rất hào hùng của thời đại chống chiến tranh Mỹ, nhưng người ta không biết là bên trong có một sự đàn áp tôn giáo. Một vấn đề khác mà người ngoại quốc ít biết đến là trái tim của Hòa thượng để lại. Nhục thân của Hòa thượng được đưa về an dưỡng địa thiêu trong suốt nhiều giờ. Lần thứ nhất, trái tim của Hòa thượng vẫn còn. Người ta phải thiêu lại lần thứ hai đến khoảng 4 ngàn độ, nhưng trái tim vẫn còn nguyên. Đó là một sự rất kỳ diệu. Chúng ta cần đặt lại vấn đề rằng điều gì làm Hòa thượng dấn thân. Một vấn đề khác mà tôi muốn đặt ra ở đây là thời đại bây giờ, có nhiều người đã mệnh danh tôn giáo gây ra những cuộc khủng bố, làm hại người và đem lại sự bất bình an xã hội. So sánh hai hình ảnh đó, ta thấy Hòa thượng Quảng Đức là một hình ảnh vừa cao quý, vừa đẹp, dám hy sinh thân mạng mang lại lợi ích cho người khác.

Trà Mi: Nói về trái tim của Hòa thượng, có một số ý kiến ngờ rằng không biết đây có phải là trái tim thật của Ngài hay không. Có tài liệu hoặc minh chứng nào để chứng minh cho điều này không?

Giáo sư Tri Ân: Đây là vấn đề tôi rất muốn biết. Cố Hòa thượng Thích Thông Bửu, đệ tử cuối cùng của Hòa thượng Thích Quảng Đức, cho biết trong năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm có tìm cách cướp trái tim của Hòa thượng, nhưng không được. Trái tim sau đó được gửi vào ngân hàng Thụy Sĩ ở Việt Nam. Sau 1975, Hòa thượng Thích Thông Bửu và một số người khác đại diện để mang trái tim về, nhưng họ không cho. Hòa thượng Thích Thông Bửu có nói rằng ấn, cái phiêu giữ, và giấy tờ lưu giữ của trái tim vẫn còn nguyên.

Trà Mi: Trái tim xá lợi của Hòa thượng Thích Quảng Đức hiện giờ đang được cất giữ tại địa điểm nào ở Việt Nam, thưa giáo sư?

Giáo sư Tri Ân: Cái đó tôi phải nghiên cứu thêm nữa.

Trà Mi: Hồi nãy có một chi tiết giáo sư cho biết là khi trái tim được xin mang về không biết nguyên do vì sao không được phép, thưa giáo sư?

Giáo sư Tri Ân: Ở Việt Nam, có nhiều vấn đề. Thứ nhất là vấn đề tổ chức giáo hội. Những gì liên quan đến hành xử hay công trình như thế nào đều có ý kiến của Ban Tôn Giáo. Trong bài viết về Hòa thượng Quảng Đức của thầy Thông Bửu, thầy chỉ đề cập đến mà thôi. Rất tiếc cách đây 3 năm khi tôi về Việt Nam muốn gặp lại thầy Thông Bửu để hỏi thêm ngọn ngành vấn đề, tôi rất muốn biết rõ vì sao chưa được phép mang về. Trong trường hợp được mang về thì mang về như thế nào. Tôi hy vọng trái tim của Hòa thượng vẫn còn. Bên cạnh đó, tôi có chụp được một số hình ảnh xá lợi xương của Hòa thượng trong một cái tháp bằng đồng.

Trà Mi: Xương xá lợi đó hiện giờ đang được lưu giữ ở đâu?

Giáo sư Tri Ân: Một số ở Sài Gòn, và một số ở Nha Trang, nơi Hòa thượng sinh ra.

Trà Mi: Nghiên cứu về một sự việc xảy ra cách đây hơn 40 năm đối với Hòa thượng Thích Quảng Đức, một nhân vật được xem là dấn thân tranh đấu cho tự do tôn giáo tại Việt Nam, giáo sư có, hoặc sẽ, tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo trong nước hiện nay để có một sự so sánh, đối chiếu hay không?

Giáo sư Tri Ân: Ngành nghiên cứu của tôi là Lịch sử-Mỹ thuật Á Châu. Tôi không đi chuyên về lịch sử Phật giáo, nhất là Phật giáo Việt Nam hiện đại. Nhưng khi chúng ta nhìn về các bài học lịch sử, dùng những bài học đó, nếu biết suy nghĩ và biết hành động thì chúng ta có thể học hỏi và áp dụng.

Trà Mi: Nếu so sánh giữa nền văn hóa Phật giáo Việt Nam giữa thế kỷ 20 với thế kỷ 21 đương đại hiện nay, từ ánh mắt một nhà nghiên cứu, ông có nhận xét ra sao?

Giáo sư Tri Ân: Đất nước Việt Nam trong mỗi thời đại, đời sống khác nhau, kinh tế, chính trị khác nhau, cho nên có những hướng đi thời đại khác nhau. Phật giáo Việt Nam nhìn chung được ví như nước. Nước có tính rất mềm, rất uyển chuyển, nhưng cũng có tính chất rất mạnh, rất hùng vĩ. Phật giáo Việt Nam gần 2 ngàn năm nhìn chung có 3 vấn đề là đức Bi, Trí, và Dũng. Nếu như họ thao thức đúng, hành động đúng thì những việc làm của họ sẽ đưa đến một kết quả tốt đẹp.

Trà Mi: Khi quan tâm đến một nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo Việt Nam, không biết ông có quan tâm đến tình hình tự do tôn giáo hiện nay tại Việt Nam hay không?

Giáo sư Tri Ân: Đây là một câu hỏi rất nóng bỏng. Thực tế thì tôi chỉ nghe và biết qua thôi, nhưng nó hơi ngoài đề tài nghiên cứu của tôi một chút.

Trà Mi: Thưa ông không nghiên cứu sâu rộng về lĩnh vực này, nhưng nhận xét cá nhân, với con mắt của một người có quan tâm đến vấn đề này, ông có sự so sánh nào không giữa tình hình tự do tôn giáo trong nước với tình hình tự do tôn giáo tại Mỹ, nơi đang cổ võ cho quyền tự do tôn giáo trên thế giới?

Giáo sư Tri Ân: Nước Mỹ được mệnh danh là một nước tự do tôn giáo. Họ đã có lịch sử tự do mở rộng về tôn giáo gần 500 năm nay. Sự tự do về tôn giáo phải dựa vào những yếu tố khách quan thực tế tại bản địa. Đây là vấn đề rất hay, nhưng đồng thời rất tế nhị.

Trà Mi: Giả dụ có một đồng nghiệp, một giáo sư nước ngoài quan tâm đến công trình nghiên cứu của ông, muốn tìm hiểu về một nhân vật tranh đấu cho tự do tôn giáo tại Việt Nam cách đây hơn 40 năm, có lẽ họ cũng thắc mắc không biết tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam hiện nay ra sao, và ý nghĩa, thông điệp của cuộc nghiên cứu này đóng vai trò như thế nào đối với bối cảnh tự do tôn giáo tại Việt Nam đương đại. Câu trả lời của giáo sư như thế nào?

Giáo sư Tri Ân: Có người hỏi tôi vấn đề này thì tôi phải kiếm một người nào đó chuyên môn, hoặc quan tâm đến vấn đề đó để trả lời cho rõ ràng hơn. Chúng ta nghiên cứu lịch sử để thấy những bài học, và những lỗi lầm từ chính sách, chính trị, đến hành động thì cần tránh.

Trà Mi: Sau cuộc nghiên cứu này, ông có dự định thực hiện thêm những cuộc nghiên cứu khác cũng liên quan đến Việt Nam hay không?

Giáo sư Tri Ân: Tôi đang viết một cuốn sách về các hình tượng được thờ ở các chùa, đình, miếu. Công trình này được Fulbright tài trợ cách đây 5 năm, và tôi từng đi Việt Nam nghiên cứu gần 1 năm. Tôi sắp hoàn tất. Đó là công trình đầu tiên. Công trình thứ hai tôi đang để ý tới là định viết một quyển sách về lịch sử mỹ thuật Việt Nam.

Trà Mi: Là một người Việt đang đảm nhiệm vai trò truyền đạt văn hóa Châu Á, nói chung, cũng như giới thiệu những nét riêng biệt của Việt Nam, nói riêng, qua các cuộc nghiên cứu, các bài viết của mình tại một đại học Hoa Kỳ, có điều gì giáo sư thấy thú vị muốn chia sẻ với thính giả của VOA không?

Giáo sư Tri Ân: Tôi thấy niềm vui nhất của tôi là giới thiệu những gì đẹp nhất, hay nhất của văn minh Á Châu với họ. Là một người Việt sinh sống ở xứ người 30 năm, nhìn về Việt Nam, bao giờ tôi cũng nhìn vào những nét rất kiêu hãnh để tự hào về văn hóa, văn minh Việt Nam.

Trà Mi: Có một số ý kiến cho rằng những nét đẹp văn hóa, những tinh hoa văn hóa, cũng như các môn học về văn hóa Việt Nam chưa thu hút sự quan tâm của nhiều người tại Việt Nam, đa số là giới trẻ. Giáo sư có lời nào muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ tại Việt Nam ngày nay?

Giáo sư Tri Ân: Tuổi trẻ Việt Nam bây giờ chạy theo những phong trào như chat, internet, họ không thấy được những nét đẹp văn hóa Việt. Đôi lúc mình nghèo quá cũng khó mà nói về văn hóa lắm, cô ạ. Phải lo cái ăn, cái mặc thì ai nghĩ đến vấn đề văn hóa? Việt Nam hiện tại vẫn còn rất nghèo và không có những tài trợ, những hội này hội kia giúp đỡ nữa. Ở Mỹ, ví dụ như công trình của tôi khi chuẩn bị nghiên cứu, tôi viết đề nghị nộp nhiều nơi và một hội đồng họ xét thấy công trình của mình có sự đóng góp nào đó, họ tài trợ cho mình. So sánh hai xã hội, ở xã hội Mỹ, khi mình có tài, thì mình có cơ hội để vươn lên, phát triển khả năng đó. Ở Việt Nam, phương tiện không được đầy đủ hoặc không có cơ hội tốt để chúng ta phát triển. Tôi hy vọng có những người Việt Nam đầu tư và bảo trợ vào kiến thức, tương lai của người Việt Nam. Phải khuyến khích vấn đề đó.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn giáo sư đã dành thời gian cho buổi nói chuyện này.

Tạp chí Thanh Niên xin chia tay với quý vị tại đây. Hẹn gặp lại tất cả quý vị và các bạn trong chương trình tuần sau.


(Theo VOA)

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 05-20-2010, 03:04 PM   #53

 
Thôi đi, 16 chữ xoa đầu!


Bác V. là cán bộ văn phòng Tỉnh ủy, về hưu đã mấy năm nay. Được con cháu hướng dẫn sử dụng máy vi tính, bác mê lắm. Mỗi ngày bác dành vài giờ đồng hồ đọc các báo mạng, trao đổi thư từ. Nhờ trời, chịu học, bác cũng đọc được tiếng Anh tàm tạm.

Một hôm, theo một đường link bác tóm được một bức tranh “cực kỳ”! Đó là kiệt tác “Famous People Painting “Discussing the Divine Comedy with Dante” . Bức tranh phải nói là đẹp và hoành tráng. Ánh sáng, màu sắc lung linh, sang trọng, pha chút huyền bí, thiêng liêng. Hơn trăm con người trong tranh nổi lên như thật, người nào cũng sinh động. Mà giá trị nhất ở chỗ đây toàn là những nhân vật nổi tiếng nhất của nhân loại, từ cổ chí kim, tốt có, xấu có, tụ hội về đây như một “đại hội đại biểu” của toàn thể nhân quần vậy.

Thoáng nhìn dễ nhận ra ngay bác Mao ngồi ở bàn giữa tươi cười với tẩu thuốc trên tay, gần đấy là Lincoln, Các Mác, là Stalin với bộ tóc bộ râu không lẫn vào đâu được. Trên cao, góc trái là Lênin đang giơ tay chỉ lối, gần đấy là Hitler với cái mũi khoằm và mái tóc vạt chéo trước trán, nhưng lại có ai như Quan Công cầm thanh long đao, ai như vua bóng đá Pê lê nữa này… Phi đen, Chê-ghê-va-ra, Yasser Arafat thì trộn vào đâu cho lẫn?

Tất nhiên rất nhiều nhân vật bác chỉ thấy quen quen, nhiều nhân vật còn lạ với bác. Nhưng may quá, khi online, di con chuột đến đâu là tên nhân vật hiện ra đến đấy, bấm chuột một cái là hiện ra một trang tiểu sử của nhân vật. Cứ thế bác khám phá tiếp từng nhân vật trong tranh. Chợt bác sực tỉnh, phải tìm Bác Hồ, xem Bác nhà mình đang ở chỗ nào? Chắc ngồi cạnh bác Mao? Không. Tìm quanh Mác, Lênin, Stalin, không thấy. Tìm trên cao, không thấy. Tìm hàng dưới cùng, nơi Putin ngồi bệt cạnh Pê lê, cũng không thấy.

Vô lý! Bác V. rà soát lại một lượt, thật kỹ, từ đầu đến cuối đủ 103 nhân vật, vẫn không thấy Bác Hồ của chúng ta đâu cả!
Sao lại bỏ sót được? Họ vẽ cả những nhân vật cỡ “tàng tàng” như Lôi Phong, như nhà đấm bốc Tyson, như mẹ Teresa, như ca sĩ Elvis Presley… Có cả những tội nhân xấu xa của nhân loại như Hitler, Saddam Hussein, thậm chí có cả con cừu Doli…, mà sao họ quên Bác nhà mình được hè?
Với một chút mất bình tĩnh, bác truy tìm tác giả bức tranh, chắc tác giả là những “thằng Tây” bên Âu Mỹ xa xôi nên coi nhẹ vùng Á Đông? Chắc họ vẽ vội vàng nên bỏ sót chăng?
Theo chỉ dẫn, bác tìm ngay ra tác giả bức tranh chẳng mấy khó khăn. Đó là 3 nghệ nhân, ba họa sĩ, ba cán bộ của Trung Quốc: một Dai Dudu – Viện phó Viện Nghệ thuật Liêu Ninh; rồi một họa sĩ sơn dầu Li Tiezi; và một Zhang Anjun – họa sĩ sơn dầu kiêm Chủ tịch Hội Nghệ sĩ trẻ. Lạ hè? Ba nghệ sĩ Trung Quốc, loại có tầm cỡ sao lại không biết Bác Hồ hè? Mà vẽ trong 10 tháng , thừa thời gian để soát đi soát lại chứ vội vã gì đâu? Ba nhân vât nho nhỏ đứng ở góc bên phải phía trên chính là chân dung ba tác giả ấy tự họa.
*
Từ đấy nhiều đêm bác V, không ngủ, cố giải thích cho ra điều ẩn khuất trong bức tranh rất đẹp kia. Bác Hồ chẳng những là anh hùng cứu quốc của dân Việt Nam mà còn là “danh nhân văn hóa kiệt xuất” của cả nhân loại này mà họ quên được à? Mà xa xôi gì, Việt Nam “núi liền núi sông liền sông, chung một biển Đông, mối tình hữu nghị sáng như rạng đông”? Bác nhà mình đã từng làm rể Trung Quốc, đã khởi nghiệp Cách mạng và lui tới Trung Quốc như người nhà, Bác mình đã được Bác Mao ca ngợi bằng câu đối có một không hai (Chí khí tráng sơn hà, Nam Bắc anh hùng duy hữu nhất * / Minh tinh thùy vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song). Bác Hồ có khác gì Bác Mao (Bác Mao nào ở đâu xa / Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao). Bác Mao đang ngồi ngay chính giữa đây, Bác Hồ ở nơi nao?
Thôi được, những chuyện cũ xa xôi cứ cho là quên đi, nhưng16 chữ vàng mới toanh sờ sờ ra đó : Lân cư hữu nghị , Toàn diện hợp tác , Trường kỳ ổn định , Tiến nhi vị lai (鄰居有誼 , 全面合作 , 長期穩定 , 进而未來). Rồi quan hệ Tứ hảo nữa “láng giềng tốt, bạn bè tốt, chiến hữu tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”!
Thử hỏi có nước nào trên thế giới thân thiết được với Trung Quốc hơn thế nữa không? Các họa sĩ Trung Quốc nhớ đến tất cả thế giới, nhớ cả kẻ thù, sao chỉ quên mỗi người láng giềng thân thiết như môi với răng? (Làm sao răng lại quên môi?), Bác Hồ thì cả thế giới còn phải nhớ, sao “thằng bạn láng giềng 4 tốt” lại quên Bác được?
Rồi bác liên hệ với những sự kiện đang vang vang trên báo chí, về thái độ bành trướng, kẻ cả, tranh chấp của Trung Quốc với ta trên biển đảo, trên biên giới, về đường lưỡi bò liếm trọn biển Đông, về mưu đồ khai thác tài nguyên và thuê đất rừng đầu nguồn, húc chìm tàu của ta, cho báo chí đưa tin sẽ dùng vũ lực đối với Việt Nam, đè bẹp Việt Nam sau 31 ngày… Thảo nào, báo chí đã kết luận “16 chữ” chỉ là sự tử tế ngoài miệng. Ngôn ngữ ngoại giao bịp bợm để hành động bành trướng ngày một sâu.
Vậy 16 chữ ấy đâu phải chữ “vàng”? Chỉ là vàng giả, vàng mạ, vàng mã, vàng ma… Mỗi lời ngọt ngào là một đợt xâm lấn, chèn ép. Vậy họ nói mặc họ, sao tự mình lại xưng tụng mấy chữ khốn ấy làm gì? Thôi đi, 16 chữ… vàng ma!

Trở lại nỗi ấm ức về bức tranh, bác yên tâm rằng vì họ ghét mình nên họ không vẽ Bác Hồ. Không vẽ Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, không vẽ danh tướng Võ Nguyên Giáp… cũng vì các anh hùng của ta chống Tàu hay không phục Tàu thôi. Tóm lại, nguyên do vì hai nước đang mâu thuẫn nhau nên họ ghét. Nhưng thói đời thế cũng là thường, mình không thèm nói theo nữa là được!
Nhưng thói quen suy nghĩ đã không cho bác yên tâm với cách giải thích ấy. Họ không vẽ một danh nhân nào của Việt Nam vì các danh nhân các anh hùng của ta đều chống Tàu ư ? Giải thích ấy đúng với Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… nhưng không đúng với Bác Hồ. Trái lại, Bác chính là biểu tượng hữu nghị thân thiết Việt-Trung kia mà? Thế thì vì sao? Đây là tác phẩm nghệ thuật của ba nghệ sĩ trưng ra với thế giới nghệ thuật, đầu phải một hành vi chính trị nhằm vào Việt Nam mà gán cho họ âm mưu? Họ vẽ theo nhận thức tự nhiên của họ, vì thế mà đáng tin.
Bác V. trằn trọc, không giải thích được. Bỗng hôm nay, đọc bài dịch của Gs Vũ Cao Đàm về một bài báo của người Trung Quốc, thấy họ gọi Việt Nam là “bọn oắt tì , nước lỏi con , một nước vô liêm sỉ , tiểu nhân bỉ ổi không biết xấu hổ…”, bác như chợt ngộ ra điều gì. Những chữ ấy không biểu hiện sự GHÉT, mà biểu hiện sự KHINH mới đúng ! Đúng rồi, họ GHÉT thì ít mà KHINH thì nhiều. Bác V. nhớ lại một số bài báo đã vạch rõ thâm tâm của Tàu chỉ coi Việt Nam như một QUẬN HUYỆN của họ, một thứ quận huyện mọi rợ, kém phát triển, hèn nhát, vô liêm sỉ. Một đàn bị khinh thì con đầu đàn có gì đáng trọng?

Việc họ ban 16 chữ rất kêu cho một “bọn oắt tì”, một “nước lỏi con” thì đấy là gì nếu không phải là cái xoa đầu của người lớn đối với một đứa trẻ con dại dột nhưng ưa phỉnh? Nếu ta không biết phản đối 16 chữ xoa đầu láo xược, coi dân tộc ta như con nít như thế, mà còn khúm núm nâng bàn tay của kẻ xoa đầu ta [bằng hai tay mình như ông HTH – BVN], còn tôn đây là lời “vàng” thì dân tộc không để đâu hết nhục! Bảo đây là đấu pháp “mềm” , thì mềm với vô sỉ còn khác nhau ở chỗ nào? Khổ thế, cứ như vậy bác V. tự dằn vặt mình, không sao ngủ được. Cứ như cá nhân mình bị sỉ nhục. Vì trong huyết quản của bác vẫn còn một dư lượng hóa chất chống ngủ: Tự trọng !
Cổ nhân có câu : Ta tự trọng thì người sẽ trọng ta, ta tự khinh thì người sẽ khinh ta! Thà bị người GHÉT, chứ không chịu để người KHINH. Bác V. lẩm nhẩm một mình: Hãy cảm ơn kẻ đã khinh ta, lời khinh chưa chắc đã đúng, nhưng họ cho ta một dịp đo lại tầm vóc thật của mình.


Nguồn: bvnpost /Thái Hữu Tình

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 05-25-2010, 08:44 PM   #54

 
Những hình thức mua chuộc mới


Nói đến tham nhũng, chúng ta thường nghĩ đến những hình thức đưa tiền theo kiểu truyền thống. Đi đường phạm luật, bị công an thổi còi đòi phạt, bèn dúi vào tay họ ít tiền ư? Ừ, thì cũng là hối lộ. Nhưng đó chỉ là kiểu hối lộ cò con và cổ điển. Làm giấy tờ để xuất ngoại hay mua bán nhà đất, muốn cho nhanh, lót tay một cán bộ nào đó ít tiền ư? Thì cũng là hối lộ Nhưng kiểu hối lộ ấy quá bình thường, chẳng có gì đáng nói cả.

Ở Việt Nam, có những hình thức hối lộ đắt đỏ và tinh vi hơn nhiều. Thực chất là hối lộ nhưng chúng lại được nguỵ trang dưới những hình thức có vẻ tình nghĩa và “đậm đà bản sắc dân tộc” hơn, do đó, khó bị kết tội hơn.

Như hình thức quà cáp, chẳng hạn.

Quà cáp có nhiều kiểu. Ở đây, tôi chỉ nói đến quà cưới.

Cách đây mấy tuần, một người bạn của tôi từ Việt Nam sang, kể: anh mới dự đám cưới con trai của một người thân ở Hà Nội. Người thân của anh là một cán bộ cao cấp cấp bộ, lại là một bộ thuộc loại “ăn nên làm ra”, nghĩa là có nhiều tiền bạc (khác, chẳng hạn, với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, vốn có một ngân sách khá eo hẹp và có rất ít dự án quốc tế!). Bạn có biết đám cưới ấy có bao nhiêu khách mời không? Theo lời người bạn tôi, có trên 3000 người! Số quà cưới trị giá bao nhiêu? Cả hàng mấy trăm tỉ đồng Việt Nam, tức là cả mấy triệu đô Mỹ. Quà, phố biến nhất là phong bì với vài ngàn đô. Nghe nói có người còn tặng cô dâu chú rể nguyên chiếc xe hơi hay cả căn hộ mới nữa.

Người ta cho đó là một cách bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn của cấp dưới đối với lãnh đạo của mình. Nhưng thực ra, đó chỉ là một cách hối lộ.

Dù sao, chuyện trên, tôi chỉ nghe kể. Còn chuyện này thì tôi biết rõ hơn: Một người bạn khá thân của tôi, đang làm việc trong lãnh vực giáo dục ở Việt Nam, có đứa con trai du học tại Úc. Cháu có bạn gái, cũng là du học sinh. Đám cưới của cháu được tổ chức hai lần ở hai nơi: Úc và Việt Nam. Sau đám cưới ở Úc, nghe bạn tôi dự tính làm đám cưới ở Việt Nam, tôi thắc mắc: Đã có đầy đủ bố mẹ hai bên dự đám cưới ở Úc rồi, cần gì phải làm thêm đám cưới ở Việt Nam nữa cho tốn kém? Bạn tôi chỉ cười. Sau đó, đám cưới xong, bạn tôi tổng kết: Đám cưới ở Việt Nam có khoảng 1000 người đến dự. Tiền mừng đám cưới đủ để con trai anh trả gần hết một căn nhà ở Úc!

Khách đâu mà nhiều đến vậy? Tại sao người ta lại tặng quà nhiều đến vậy?

Thì toàn là cán bộ dưới quyền của anh. Các sinh viên cũ. Phụ huynh của các sinh viên hiện đang học. Rồi những người ít nhiều chịu ơn của anh từ trước đến nay.

Bạn tôi biện hộ: Ở Việt Nam, đó là phong tục. Không thể mời ít hơn được. Những người không được mời, nhất là thuộc cấp trong cơ quan, sẽ nghĩ là mình ghét bỏ họ. Họ sẽ vô cùng lo lắng và khổ sở. Thì mời. Người “được” mời sẽ sung sướng có được cơ hội để bày tỏ tình nghĩa của mình đối với cấp trên. Và cấp trên thì không phải áy náy là mình tham nhũng. Lợi cả đôi bên.

Đó là hình thức cấp dưới mua chuộc cấp trên. Chuyện ấy hầu như thời nào cũng có. Và ở đâu cũng có. Có điều, ở các nước Tây phương, mọi hình thức quà cáp mà giới lãnh đạo nhận được đều bị kiểm soát gắt gao. Lấy Mỹ làm ví dụ. Theo luật của Mỹ, Tổng thống và phó Tổng thống được quyền nhận quà từ các công dân của họ, nhưng mọi món quà trị giá trên 285 đô Mỹ đều phải khai báo. Trên thực tế, rất hiếm khi họ giữ lại các món quà ấy làm của riêng: phần lớn chúng được gửi vào Kho lưu trữ quốc gia (National Archives). Còn quà cáp từ ngoại quốc thì, thoạt đầu, tất cả đều phải được sự chấp thuận của Quốc Hội; sau, luật nới giãn hơn một tí: họ được nhận những món quà trị giá từ 335 đô trở xuống. Xin lưu ý: một, không khai báo, vì bất cứ lý do gì, đều bị xem là phạm pháp; hai, danh sách những người tặng quà và trị giá món quà của họ đều được công khai hoá để quần chúng có thể dễ dàng kiểm tra. Còn ở Việt Nam? Nhớ, cách đây năm mười năm gì đó, Đỗ Mười thú nhận là đã từng nhận một triệu đô la từ một công ty Hàn Quốc. Đó là chuyện được thú nhận. Còn những chuyện không được thú nhận thì sao? Chỉ cần theo dõi một ít vụ tham nhũng, như vụ Bùi Tiến Dũng và Huỳnh Ngọc Sĩ, được đăng tải trên báo chí là đã thấy ngợp rồi.

Tuy nhiên, điều đáng nói là ở Việt Nam không phải chỉ có cấp dưới mới mua chuộc cấp trên. Cấp trên, ngay cả cấp trên cực cao, cũng mua chuộc cấp dưới nữa.

Cao nhất là đảng và chính phủ.

Nhớ, lần về Việt Nam đầu tiên năm 1996, tôi nghe một người bạn vốn là giáo sư nổi tiếng khoe là anh sắp có một căn nhà mới. Nhà lầu đàng hoàng. Ở ngay mặt tiền. Hỏi chi tiết, anh cho biết là anh được nhà nước cấp một mảnh đất khá lớn. Không có tiền để xây, anh bán cho nhà thầu nửa miếng đất. Người ta sẽ xây hai ngôi nhà lầu; mỗi ngôi bốn tầng. Người ta sẽ giao cho anh hẳn một cái; cái kia người ta giữ. Như thế, chỉ chờ đợi mấy tháng, anh có nguyên một ngôi nhà lầu bốn tầng đồ sộ. Với nó, anh có thể an hưởng tuổi già: hai vợ chồng ở hai tầng trên; hai tầng dưới thì cho thuê. Khỏi phải lo lắng gì về tài chính nữa cả. Khoẻ!

Khi tôi hỏi: Tại sao anh được cấp đất như thế? Anh đáp: Tất cả các đảng viên có tuổi đều được cấp. Tuổi đảng và chức vụ càng cao, miếng đất càng lớn. Anh bình luận: Kể ra, đó cũng là một hình thức mua chuộc của đảng và nhà nước. Mua chuộc sự trung thành của các cán bộ và đảng viên.

Rồi chép miệng, anh nói tiếp: Biết thế, nhưng ai đủ can đảm từ chối một món quà lớn lao và quý báu như thế nhỉ?

Ừ, nghĩ coi, có mấy ai?


Nguyễn Hưng Quốc.

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 05-25-2010, 08:50 PM   #55

 
THAM NHŨNG VÀ VẤN NẠN SUY GIẢM ĐẠO ĐỨC TRONG XÃ HỘI


Không một ai trong chúng ta và kể cả những đảng viên CS cuồng tín nhất có thể giải thích thế nào là xã hội Xã hội chủ nghĩa. Không một ai trong chúng ta biết được mình còn phải sống trong sự dối trá đến bao giờ nữa. Nhưng tất cả chúng ta đều biết chắc chắn rằng Việt Nam có tốc độ phát triển và quy mô cao nhất thế giới về tham nhũng.

Thật vậy, không một quốc gia nào trên thế giới có nhiều văn bản chống tham nhũng như Việt Nam. Cũng không một quốc gia nào trên thế giới mà người ta hô hào chống tham nhũng như ở Việt Nam. Nhưng trái lại, Việt Nam vẫn bị liệt vào một trong số những quốc gia tham nhũng nhất thế giới. Tham nhũng có mặt ở khắp mọi nơi trong xã hội, len lỏi vào tất cả các cấp, các ngành, trong tất cả bộ máy công quyền của nhà nước, không ở đâu ta không bắt gặp tham nhũng.

Điều đó đặt ra cho chúng ta một câu hỏi: Tại sao vậy? Và có rất nhiều câu trả lời, chung quy là tại những nguyên nhân sau đây:

Do đạo đức trong xã hội xuống cấp trầm trọng. Do nghèo đói, do sai lầm trong đường lối kinh tế. Do hệ thống pháp luật rối rắm, chồng chéo, khó hiểu dẫn đến hiện tượng tùy tiện trong việc áp dụng, tạo điều kiện cho những kẻ có chức quyền trong bộ máy nhà nước lợi dụng bẻ cong pháp luật phục vụ cho mưu đồ cá nhân. Do thiếu một hành lang pháp lý chặt chẽ cho hoạt động của các thành phần kinh tế, dẫn đến việc tùy tiện trong việc áp dụng các chính sách của nhà nước, và đấy chính là kẽ hở cho việc mặc cả của các quan chức chính phủ nhằm mang lại những lợi thế ích kỷ nhất định. Do năng lực hoạt động yếu kém, quan liêu, chất lượng phục vụ tồi trong bộ máy hành chính đã tạo nên sự khan hiếm giả tạo trong các dịch vụ hành chính, tạo ra bổng lộc và phân phối lại bổng lộc thông qua hành vi dùng tiền bạc để “bôi trơn cỗ máy”.

Nhưng có một nguyên nhân quan trọng mà rất nhiều người đã nói đến: đó là lỗi ở hệ thống chính trị! Theo tôi, đây là nguyên nhân chính dẫn đến tham nhũng, và cũng chính lỗi trong hệ thống chính trị đã gây ra sự suy giảm đạo đức trong xã hội hiện nay. Vậy, muốn chống tham nhũng và làm trong sạch bộ máy công quyền thì không gì hơn là sửa lỗi hệ thống. Bài viết này đi tìm nguyên nhân của lỗi trong hệ thống và cách khắc phục lỗi trong hệ thống đó.

Để giám sát một con người, hay mở rộng ra, một tổ chức hoặc một hệ thống chính trị về đạo đức, hoặc việc tuân thủ pháp luật, thì thể chế giám sát phải bao gồm hai cơ chế: cơ chế ngang và cơ chế dọc. Chỉ cần một trong hai cơ chế này có khuyết tật thì thể chế giám sát mất đi tính hiệu quả. Khi đó, các hành vi phi đạo đức sẽ xuất hiện – tham nhũng cũng sẽ xuất hiện.

Cơ chế dọc bao gồm hệ thống các cơ quan ngành dọc như: chính phủ – các bộ – các ty, sở – các phòng, ban trực thuộc. Trong một cơ quan, cơ chế dọc bao gồm: thủ trưởng cơ quan- các trưởng phòng- các nhân viên. Trong hệ thống dọc này, chức năng giám sát được thực hiện chủ yếu bằng các mệnh lệnh hành chính và các hình thức khen thưởng, kỷ luật. Tính cưỡng chế của các hình thức này không cao, vì bị chi phối bởi tình cảm giữa cấp trên và cấp dưới, hoặc ekíp trực thuộc.

Cơ chế ngang bao gồm hệ thống các cơ quan kiểm tra và giám sát như: tòa án, kiểm sát, công an, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức chính trị không do đảng kiểm soát và dư luận quần chúng. Trong một cơ quan cơ chế ngang bao gồm: Ban thanh tra, kiểm tra, ban khen thưởng, kỷ luật. Tính cưỡng chế của các cơ quan chức năng này cao hơn và được thực thi chủ yếu bằng các hình thức tố tụng.

Nói một cách dễ hiểu thì cơ chế dọc giống như trong một gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ, và các con cháu. Còn cơ chế ngang thì như hàng xóm láng giềng, cảnh sát khu vực… Đi vào vấn đề tại Việt Nam, trong cơ chế dọc, đứng đầu các cơ quan đều là người của Đảng. Cơ chế này bị chập làm một, ví dụ như Nguyễn Việt Tiến là Thứ trưởng bộ Giao thông vận tải kiêm luôn chức trưởng ban Chống tham nhũng tại bộ Giao thông Vận tải. Bùi Tiến Dũng là giám đốc PMU 18 lại kiêm chức trưởng ban Chống tham nhũng tại PMU18. Hai kẻ tham nhũng lớn nhất lại kiêm luôn chức năng chống tham nhũng thì cơ chế dọc này coi như không thể hoạt động. Bởi vậy, bí thư đảng ủy của Bộ Giao thông (nằm trong cơ chế dọc) mới có những tuyên bố hùng hồn rằng. “cho đến trước khi bị bắt, đồng chí Bùi Tiến Dũng vẫn là một Đảng viên gương mẫu”.

Còn cơ chế ngang: đứng đầu các cơ quan đó vẫn là các đồng chí của Đảng. Điều này sẽ dẫn đến hiện tượng bao che cho nhau, ví như Cao Ngọc Oánh là Cục trưởng cục Cảnh sát điều tra của Bộ Công an lại tham gia trong đường dây chạy án cho Bùi Tiến Dũng. Khi bị phát hiện, ông ta cãi: “Tôi đến chỉ để ăn chứ không nói chuyện chạy” . Các cơ quan báo chí tại Việt Nam lại không độc lập, nên việc phanh phui tham nhũng cũng rất khó khăn. Chỉ khi nào sự việc quá lộ liễu, không thể bao che được thì báo chí mới được phép đụng đến. Còn các tổ chức chính trị xã hội lại hoàn toàn đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CS, cho nên chức năng giám sát của các tổ chức này coi như không có. Như vậy, cơ chế ngang và dọc tại Việt Nam coi như bị chập làm một, nó sẽ không hoạt động, tức là các hành vi phi đạo đức sẽ có cơ hội phát triển, tham nhũng là điều đương nhiên.

Quay trở lại ví dụ về gia đình. Nếu một gia đình tốt, không may có một người có hành vi không tốt, thì tất yếu người này sẽ được sự giáo dục và dạy bảo của gia đình và sự giám sát của láng giềng, hành vi xấu không có đất để sống. Còn tại một gia đình cả nhà toàn lũ lưu manh trộm cướp, buôn phấn bán hương, thì sẽ không ai có khả năng dạy bảo đạo đức cho người khác, và ngược lại, chúng sẽ bao che cho nhau. Quay sang láng giềng, thì gia đình vừa nói ở trên lại sống trong một “xóm liều”, hàng xóm của chúng cũng như vậy, đương nhiên chúng phải che dấu cho nhau. Chuyện kể rằng: Một hôm, cô con gái nhà ấy đang bán dâm thì không may bị phát hiện. Người ta hỏi người trong gia đình về chuyện bán dâm của cô gái, thì người nhà (tức cơ chế dọc) nói rằng : “cho đến trước khi cởi quần… đồng chí ấy vẫn là một đảng viên gương mẫu… . Quay sang láng giềng hỏi thì láng giềng (cơ chế ngang) cũng lại nói: “Tôi đến chỉ để ăn chứ không nói chuyện chạy…” Chống tham nhũng tại Việt Nam cũng giống như chuyện về gia đình kể trên.

Vậy muốn thực sự chống tham nhũng thì không gì bằng phải sửa ngay lỗi trong hệ thống, nếu không sửa thì ta có cố kêu gào đến đâu đi chăng nữa cũng vô tác dụng. Nhiều năm nay, trước khi nhậm chức, vị lãnh đạo nhà nước nào cũng kêu gào “Kiên quyết chống tham nhũng”. Nhưng với hệ thống nói trên thì tin làm sao được các vị. “…Với cơ chế như hiện nay thì ai làm bộ trưởng cũng thế thôi…” là câu nói trung thực nhất từ trước đến nay từ miệng một quan chức CS, đó là ông bộ trưởng bộ Giao Thông Vận Tải Đào Đình Bình.Và đúng như vậy , nếu ai đó tin vào việc chống được tham nhũng ở Việt Nam mà không thay đổi cơ chế thì cũng như việc ta tin vào việc bỗng nhiên Osama Bin Laden cạo râu, xuống tóc, khoác áo tu hành đi ăn mày nơi cửa Phật rồi trở thành… chính quả.

Chúng ta cũng đã thấy từ tổng thanh tra nhà nước Quách Lê Thanh, đến phó chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Lâm, từ tướng công an….đến thứ trưởng… “ai làm cũng thế thôi…”. Toàn những gương mặt thể hiện “tính Đảng” trong một cơ chế dối trá lừa lọc mà hi vọng vào việc chống tham nhũng thì thật hài hước (riêng về mặt này phải công nhận Đảng ta có năng khiếu thật!). Vả lại, với cơ chế này thì có tốt mấy cũng trở thành xấu. Bùi Tiến Dũng (đánh bạc và tham nhũng), Lương Quốc Dũng (hiếp dâm trẻ em), Dương Minh Ngọc (thượng tá Công an, tay sai của Năm Cam)….và rất nhiều những gương mặt méo mó khác mà vẫn chưa bị phát giác có thể cũng đã từng là những người tử tế. Nhưng rồi họ được đặt vào vòng quay của quyền lực, vào một “cơ chế này” để được biến thành những quái vật nhưng vẫn được gọi bằng cái tên nghe rất Kách mệnh (viết sai lỗi chính tả theo cách viết của ông Hồ Chí Minh, mà bây giờ ta thường thấy) là Đồng chí… cho đến trước khi bị bắt… Tôi đố các bạn tìm được một gương mặt tử tế theo đúng định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt ở bộ máy quan chức nhà nước để phục vụ cho việc chống tham nhũng! Việc đó cũng khó như bạn muốn tìm một người đoan chính để lấy làm vợ mà lại đi tìm trong các nhà chứa.

Nhiều người cho rằng tham nhũng là quốc nạn, nhưng riêng tôi lại không nghĩ vậy. Tôi cho rằng tham nhũng là hệ quả tất yếu của một cơ chế dối trá mà nguyên nhân phát xuất từ chế độ độc đảng. Độc đảng mới chính là cội nguồn của tham nhũng, là cội nguồn của sự suy giảm đạo đức trong xã hội, là quốc nạn của dân tộc. Muốn chống tham nhũng và chống sự suy thoái trong xã hội không gì bằng phải xoá bỏ chế độ độc đảng, xây dựng một xã hội dân chủ, một nền chính trị đa nguyên. Đó là điều kiện cần để xây dựng một cơ chế giám sát ngang và dọc cho có hiệu quả. Trong một nền dân chủ đa nguyên, các đảng phái chính trị giám sát nhau, tranh đua với nhau trong cơ chế dọc. Còn trong cơ chế ngang, sự độc lập của các cơ quan toà án, kiểm sát, công an được hình thành trong một một môi trường tam quyền phân lập, là căn cứ đảm bảo cho cơ chế này hoạt động có hiệu quả. Ngoài ra, trong một nền dân chủ đa nguyên, các cơ quan báo chí và các tổ chức chính trị, xã hội cũng hoạt động độc lập, đó cũng là những cơ chế giám sát có hiệu quả.

Cũng xin nhớ cho rằng đa nguyên chỉ là điều kiện cần chứ chưa hẳn là điều kiện đủ, bởi không ít quốc gia đa nguyên hẳn hoi mà tham nhũng vẫn hoành hành như Căm Pu Chia, Inđônexia, Philippin… và nhiều quốc gia khác, cũng đa nguyên nhưng tham nhũng vẫn còn. Đó là do họ chưa xây dựng được một cơ chế ngang hành động độc lập với cơ chế dọc, hoặc do đảng phái chính trị cầm quyền có quá nhiều ghế trong quốc hội, dẫn đến việc chiếm giữ những cơ chế giám sát ngang hoặc dọc khiến nó hoạt động không hiệu quả (việc này tôi sẽ trình bày vào một dịp khác nếu có điều kiện). Nhưng độc đảng thì chắc chắn không bao giờ chống được tham nhũng. Việc xây dựng một xã hội dân chủ đa nguyên hơn bao giờ hết là ước mong thiết tha của hàng triệu người dân cả nước, và Đảng phải hoàn toàn nhận thức được vấn đề trước khi quá muộn. Hãy cởi trói cho dân nếu không muốn bị dân trói lại. Hãy mở rộng dân chủ và hoàn lương khi còn có điều kiện.

Hà Nội

Lê Chí Quang

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 06-02-2010, 11:41 AM   #56

 
Giáo dục: Tai hại của tham nhũng


Liên quan đến lãnh vực giáo dục ở Việt Nam, vào cuối tháng 5 vừa qua, có một sự kiện thu hút sự chú ý của quần chúng: cuộc hội thảo quốc tế về chống tham nhũng tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 5.

Cuộc hội thảo do hai đơn vị cùng đứng ra tổ chức: Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Đại sứ quán Thuỵ Điển tại Hà Nội. Đọc các bài tường thuật đăng tải trên báo chí Việt Nam về cuộc hội thảo ấy, chúng ta bắt gặp một sự mâu thuẫn khá thú vị: trong khi các quan chức Việt Nam, từ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đến Thanh tra Chính phủ đều khẳng định vấn đề tham nhũng trong lãnh vực giáo dục tại Việt Nam không có gì trầm trọng, ý kiến của các chuyên gia cả Việt Nam lẫn quốc tế đều ngược lại.

Ông Rolf Bergman, Đại sứ Thuỵ Điển thì cho “tham nhũng vẫn tràn lan”; Đại sứ Úc thì cho biết tham nhũng làm thất thoát khoảng 1-2% tốc độ tăng GDP mỗi năm của Việt Nam; Đại sứ Thuỵ Sĩ thì nhắc nhở mọi người là theo “chỉ số công bố của Tổ chức minh bạch quốc tế năm 2009, Việt Nam được 2,77 điểm, đứng thứ hạng không cao trong số 180 nước so sánh.”

Các quan chức Việt Nam, ngược lại, cho các vụ tham nhũng trong lãnh vực giáo dục “không nhiều và quy mô không lớn”: “Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, từ năm 2006 đến nay có 8 hành vi tham nhũng tại các cơ sở giáo dục thuộc quản lý của Bộ GD&ĐT; 2 hành vi tham nhũng tại các cơ sở thuộc quản lý của Bộ, ngành khác; 13 sở GD&ĐT có phát hiện hành vi tham nhũng tại một số cơ sở do mình quản lý. Những hành vi này đã được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm.”

Ngoài các số liệu chắc chắn là không đáng tin nêu trên, một trong các lập luận mà giới chức Việt Nam đưa ra để biện hộ cho nhận định của họ là ngân sách giáo dục, sau khi trừ tiền lương, còn lại rất ít. Mà tiền cấp ít thì cơ hội tham nhũng cũng ít.

Thật ra, lập luận như thế hoàn toàn không thuyết phục. Thứ nhất, không có chứng cứ nào cho thấy ngân sách ít thì tham nhũng ít cả. Đã đành là không có cán bộ nào trong lãnh vực giáo dục có thể bỏ túi cả mấy chục triệu đô la như các cán bộ trong lãnh vực đầu tư hay xây dựng. Nhưng điều đó không có nghĩa là ngân sách ít thì có ít người tham nhũng. Tham nhũng vài trăm ngàn đô, vài chục ngàn đô, thậm chí, vài ngàn đô thì cũng vẫn là tham nhũng.

Thứ hai, ngân sách giáo dục thường phân tán, ở nhiều cấp và nhiều trường khác nhau; tính chất phân tán ấy là điều kiện thuận lợi cho tham nhũng: mỗi nơi cắn xé một ít. Rất khó kiểm soát và kiểm tra.

Thứ ba, nói đến tham nhũng, không thể giới hạn trong số tiền của nhà nước. Vòi vĩnh một cách bất chính tiền bạc của phụ huynh học sinh cũng là tham nhũng. Buôn bán bằng cấp, học vị, học hàm và chức tước trong ngành giáo dục cũng là tham nhũng. Mà ở khía cạnh này, cơ hội để tham nhũng lại nhiều vô cùng: không có lãnh vực nào có nhiều người tham gia như là trong lãnh vực giáo dục.

Ở Việt Nam hiện nay có hơn 22 triệu học sinh. Cộng với hàng trăm ngàn sinh viên đại học và hậu đại học. Rồi còn số lượng cực lớn các giáo viên và giáo sư nữa. Tất cả đều là những nguồn tiền, dù nhỏ, cho những kẻ tham nhũng.

Bởi vậy, tham nhũng trong lãnh vực giáo dục khá phổ biến và cũng khá đa dạng. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đình Cử thuộc Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế Quốc dân, chỉ riêng trong hệ thống giáo dục phổ thông, có đến 9 hình thức tham nhũng khác nhau: “chạy trường (năm 2006, muốn vào học trường Phổ thông Trung học Lê Quý Đôn, TP.HCM, mất 2000 USD); chạy điểm (vụ chạy điểm 553 triệu đồng ở Bạc Liêu); tham nhũng qua dạy thêm; lạm thu phí giáo dục; độc quyền xuất bản sách giáo khoa; tham nhũng trong tuyển dụng, đề bạt và luân chuyển giáo viên; rút ruột các công trình xây dựng (kiên cố hoá trường học phát hiện 14% phòng học gây thất thoát hơn 27 tỷ đồng); xà xẻo khi mua thiết bị dạy học; xà xẻo kinh phí dự án giáo dục.”

Nguyễn Đình Cử chỉ giới hạn ở cấp phổ thông, từ tiểu học đến trung học. Còn ở đại học thì sao? Thì chắc chắn cũng đầy tham nhũng. Tham nhũng từ khâu tuyển sinh đến khâu tốt nghiệp. Muốn bảo vệ luận án thành công? Phải có quà cáp cho cả giáo sư hướng dẫn đến các giáo sư phản biện. Những điều này báo chí trong nước đã nói đến khá nhiều.

Viết đến đây, tôi sực nhớ một lần, năm 1996, nhà phê bình Đỗ Lai Thuý chở tôi đến chơi ở nhà giáo sư Trần Quốc Vượng. Buổi tối. Hôm đó Giáo sư Trần Quốc Vượng vừa mới được bổ làm chủ nhiệm Khoa Văn hoá học ở trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Lâu rồi, tôi hoàn toàn không nhớ tối đó chúng tôi nói chuyện gì với nhau. Mà, thật ra, nói chuyện cũng không nhiều. Cuộc nói chuyện thường xuyên bị ngắt quãng bởi các cú điện thoại gọi đến Trần Quốc Vượng. Không biết những người bên kia nói gì. Tôi chỉ nghe giọng Trần Quốc Vượng gắt lên: “Để mai tính, mày!” hay “Bây giờ tao đang có khách!” Sau đó, có tiếng gõ cửa. Trần Quốc Vượng vừa mở cửa vừa la lớn: “Tao đã nói là tao đang có khách mà! Khách Việt kiều đấy nhé! Về đi!” Thế nhưng mấy người kia vẫn vào. Vẫn cười cười. Và vẫn nói chuyện. Từ dáng điệu đến giọng nói đều có vẻ gì vừa nịnh nọt vừa bẽn lẽn.

Qua câu chuyện của họ, tôi biết họ đang vận động cho các chức vụ trong cái Khoa mới vừa được thành lập. Trần Quốc Vượng, tính tình bỗ bã, vừa gắt gỏng vừa xua tay. Mấy người kia vẫn năn nỉ. Đỗ Lai Thuý ngồi cắm cúi đọc cuốn sách anh mang theo. Tôi nhìn mông lung lên kệ sách và mấy bức tranh treo trên tường, nhưng vẫn lắng nghe câu chuyện với tất cả sự tò mò của một tên Việt kiều lần đầu tiên về nước. Trước, lúc ở Việt Nam, tôi cũng đã từng đi dạy học; nhưng, thú thực, tôi hoàn toàn không biết gì về những kiểu vận động cửa sau như vậy. Dạy học ở ngoại quốc, tôi lại càng không biết những vụ như vậy. Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là “chạy chọt”.

Dĩ nhiên, kể lại chuyện trên, tôi không muốn nói Trần Quốc Vượng dính dáng đến tham nhũng. Không. Tuyệt đối tôi không có ý ấy. Tính cách ông không phải là người như vậy. Ông cũng không cần làm vậy. Điều làm tôi ngạc nhiên và để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất là cách thức vận động chức vụ ở Việt Nam: Luồn cúi và đi cửa sau. Trong lãnh vực giáo dục mà còn thế, huống gì các lãnh vực khác béo bở hơn? Trí thức mà còn thế, huống gì những người không phải là trí thức?

Đồng ý số tiền đút lót trong lãnh vực giáo dục chắc không nhiều. Nhưng số tiền nhỏ không có nghĩa là tác hại của chúng cũng nhỏ. Ngược lại. Có thể nói không ở đâu tham nhũng lại có tác hại lâu dài và sâu sắc cho bằng tham nhũng trong giáo dục. Một cán bộ ngành xây dựng tham nhũng, cùng lắm, làm cho công trình giảm chất lượng đi một tí. Giảm thì sửa. Một cán bộ thuế vụ tham nhũng, ngân sách nhà nước sẽ bị giảm đi một tí. Giảm thì bù. Một cán bộ hải quan tham nhũng, một số mặt hàng lậu có thể tràn vào nước; hại thì có hại, nhưng nói thực tình, trừ ma tuý, chúng cũng chẳng làm chết ai cả.

Còn tham nhũng trong giáo dục?

Qua cách chạy điểm và buôn bán bằng cấp, người ta sẽ tạo ra vô số những trí thức giả, vừa kém tài vừa kém tư cách, những kẻ sẽ góp phần phá huỷ bất cứ một dự án tốt đẹp nào của xã hội. Dạy học, họ sẽ là những thầy cô giáo dốt. Làm việc, họ sẽ là những cán bộ tồi. Khi cái dốt và cái tồi ngồi cao hơn vị trí vốn có của chúng, chúng trở thành gian.

Nhưng tai hại nhất là ở hai điểm này:

Thứ nhất, chúng tạo ra hoặc khoét sâu thêm các bất công trong xã hội. Nói đến chuyện bình đẳng, hầu như ai cũng thừa nhận: quan trọng nhất là sự bình đẳng trong các cơ hội giáo dục. Có cơ hội giáo dục là có cơ hội thăng tiến. Có cơ hội thăng tiến là có tương lai. Có tương lai là có tất cả. Với sự xuất hiện của tham nhũng, cơ hội giáo dục của rất nhiều người sẽ bị cướp mất: vì nghèo, họ không thể vào học được các trường có chất lượng cao; hay vì nghèo, không thể học thêm ngay với các thầy cô giáo đang đứng lớp, do đó, không thể có điểm cao; và cũng do đó, mất hẳn tự tin, chẳng hạn.

Nhưng tai hại thứ hai này mới thực sự lớn: chúng làm cho trẻ em, ngay từ nhỏ, đã mất hẳn niềm tin vào công lý. Thi tuyển vào trường, các em biết kết quả không thuộc ở khả năng hay sự cố gắng của bản thân mà chủ yếu tuỳ thuộc vào quà cáp của bố mẹ. Ngồi trong lớp học, các em biết rõ thái độ của thầy cô giáo đối với mình sẽ khác hẳn đi không phải do hạnh kiểm bản thân mà do sự hào phóng của bố mẹ các em. Những bài học đầu đời, do đó, là những bài học xấu: mọi chuyện đều, có khi chỉ, được giải quyết bằng tiền. Và đồng tiền khôn luôn luôn là đồng tiền đi cửa sau.

Với những bài học đầu đời như vậy, tương lai các em sẽ ra sao?

Và đất nước sẽ ra sao?

Tôi không dám nghĩ tới.

Xin nhường câu trả lời cho quý bạn đọc.


Nguyễn Hưng Quốc

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 06-05-2010, 09:41 AM   #57

 
Người Việt khinh người Viêt


Nhớ, có lần về Việt Nam, tôi được giới thiệu với một trí thức khá lớn tuổi ở Hà Nội. Chuyện gẫu, anh khoe anh đang sống chung với một phụ nữ Tây phương. Tôi không hỏi là hai người sống chung như vợ chồng hay bồ bịch. Thực tình, tôi cũng chẳng thấy có chút ngạc nhiên hay tò mò nào. Nhưng một lát sau thì anh bạn ấy lại hỏi tôi: “Chị nhà là người nước nào vậy, thưa anh?” Khi tôi đáp là người Việt, tôi thoáng thấy có chút thất vọng trong ánh mắt của anh. Tôi đoán chắc anh đang nghĩ thầm: Mẹ kiếp! Sống ở nước ngoài cả mấy chục năm mà vẫn cứ xài hàng nội!

Khoảng giữa thập niên 1990, khi chính sách mở cửa về kinh tế của Việt Nam đã có nền tảng khá vững, nhiều trường đại học ở Tây phương, trong đó có Úc, tìm cách xây dựng các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Thoạt đầu, người ta nghĩ ngay đến lực lượng trí thức Việt Nam như những trung gian cực tốt: Họ biết cả hai ngôn ngữ và cả hai nền văn hoá. Thế nhưng, chỉ vài năm sau, phần lớn đều khám phá ra điều này: họ không thực sự cần trung gian lắm. Không phải những người trung gian ấy bất tài. Không phải. Lý do chính là vì chính quyền cũng như các trường học và công ty Việt Nam thường nghi kỵ các đồng hương của họ ở nước ngoài hơn là với người ngoại quốc. Người ngoại quốc nói gì người ta cũng yes, yes. Trong khi với các chuyên gia người Việt thì người ta lại hoạnh hoẹ đủ điều.

Tôi có một chị bạn lấy chồng Úc. Hai người đi về Việt Nam chơi. Có lần cần đến cơ quan công quyền để làm giấy tờ gì đó. Chị vợ vào năn nỉ ỉ ôi với một thứ tiếng Việt giọng Huế cực kỳ ngọt ngào. Chị bị từ chối một cách phũ phàng. Năn nỉ mấy cũng không được. Lát sau, nước mắt dầm dề, chị ra kể với ông chồng đang ngồi chờ ở phòng ngoài. Anh chồng người Úc bực tức cầm mớ giấy tờ vào thẳng trong phòng. Mấy phút sau, anh trở ra, miệng cười toe toét: Xong rồi! Từ đó, hai người rút kinh nghiệm: gặp bất cứ vấn đề gì cần giải quyết với người Việt Nam, anh chồng sẽ lao ra và chị vợ thì lùi lại sau. Bất kể người đối thoại có biết tiếng Anh hay không, mọi việc thường đều được giải quyết một cách nhanh chóng và ổn thoả.

Mà hình như không phải chỉ ở trong nước.

Nhớ, cách đây hơn mười năm, cái máy giặt ở nhà tôi bị trục trặc. Tôi điện thoại gọi một người thợ Việt Nam đến sửa. Vừa lúi húi sửa máy, anh vừa hất hàm hỏi tôi: “Anh làm nghề gì vậy?” Tôi đáp: Đi dạy học. Anh hơi ngạc nhiên. Lại hất hàm hỏi: “Dạy cấp mấy?” Tôi đáp: Đại học. Anh càng ngạc nhiên: “Dạy gì?” Tôi đáp cho qua chuyện: Thì dạy tiếng Việt lăng nhăng vậy mà. Anh phán ngay: “Ừ, thì cũng dễ!”

Ừ, thì cũng dễ.

Sau đó, trong một buổi nói chuyện phiếm, tôi kể cho một người bạn Úc đang dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) nghe. Chị nói là chị không hiểu được. Chị dạy ESL cả mấy chục năm nay, chưa bao giờ nghe bất cứ ai nói là dạy ESL dễ hơn dạy các môn khác. Chưa ai gọi English, ngay cả English as a second language, là tiếng “lít” như một số người Việt vẫn gọi tiếng Việt là tiếng “Mít” cả.

Mà hình như tâm lý khinh thường người Việt và tiếng Việt đã có ngay từ xưa. Chữ Hán là chữ của thánh hiền. Người ta không dám vất hay đạp lên một mảnh giấy có vài chữ Hán nguệch ngoạc trên đó. Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué. Viết văn, muốn đi vào thiên cổ, thì dùng chữ Hán. Khi viết bằng chữ Nôm thì người ta khiêm tốn hẳn. Tài năng lồng lộng như Nguyễn Du cũng khiêm tốn: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh”. Các cây bút khác cũng thế. Trong Nhị Độ Mai: “Biết bao lời kệch tiếng quê / Thôi thôi bất quá là nghề mua vui”. Trong Phù dung tân truyện: “Lời quê chắp chảnh nên câu / Chép làm một truyện để sau mua cười”. Trong Bích câu kỳ ngộ: “Cũng xin góp một hội cười / Cùng mua mấy trống canh vui gọi là”, v.v… Đầu thế kỷ 18, dưới thời chúa Trịnh, các truyện “nôm na” ấy được xem là những “tiếng dâm” cần phải bị nghiêm cấm đấy!

Dưới thời Pháp thuộc, óc tự ti và sùng ngoại càng lên cao. Trong những điều người ta mơ ước “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”, chẳng có gì dính dáng đến Việt Nam cả. Cái gì lớn, tốt, đẹp thì được gọi là… “Tây” để đối lập với “ta”: hành tây, gà tây, khoai tây, v.v… Rồi “sang như Tây”, “đẹp như Tây”, “trắng như Tây”. Hết Tây thì đến Mỹ: xài Mỹ, giàu như Mỹ, sang như Mỹ, v.v…

Gần đây thì có sự phân biệt giữa nội và ngoại. “Ngoại” đồng nghĩa với thật và chất lượng cao. “Nội”, ngược lại, hầu hết là kém, thậm chí, giả, hay nói theo tiếng thông dụng lâu nay là dỏm / dởm / rởm.

Thành ra, có thể nói thái độ người Việt tự khinh người Việt, tiếng Việt và bất cứ thứ gì do người Việt làm ra có nguồn gốc sâu xa từ tâm lý thuộc địa. Hết thuộc địa của Tàu thì đến thuộc địa của Tây.

Tàu đi rồi. Tây đi rồi. Tâm lý thuộc địa biến thành tâm lý hậu thuộc địa. Cũng vẫn là một nỗi tự khinh mình.

Bạn có thấy vậy không?


Nguyễn Hưng Quốc

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
The Following User Says Thank You to sovo For This Useful Post:
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 07-22-2010, 07:17 AM   #58

 
Chống văn công?


Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.

Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tùy tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước.

Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khán giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta.

Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần túy ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến.

Trong chủ trương đem văn hóa thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thỏa thuận CWA (Central Withholding Agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối.

Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ.

Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ Chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.

Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn.

Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có tòa đại sứ, lãnh sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nổi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hóa, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn... Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”

Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóa tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu sử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ.

Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, dang nắng đi biểu tình nữa.


Huy Phương

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
The Following User Says Thank You to sovo For This Useful Post:
sovo

Status: Offline

Nhóm: VMS Moderator
Tham gia: Apr 2006
Đến từ: CANADA
Bài gởi: 9,966
sovo's Avatar

Đã cám ơn:: 1,172
Được cám ơn: 7,640 lần trong 4,784 bài viết

User's Level
Level: Level: 68 - Class: None
EXP: 125/680 (18.4%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Ðề: Nơi Siêu Tầm... Bài Viết Hay
Cũ 07-26-2010, 11:28 AM   #59

 
Vẹm ngửi hơi cay bằng dân cày đổ máu!


Vụ tên đặc công xung kích văn nghệ Đỏ Đàm Vĩnh Hưng bị lý Tống xịt một chút hơi cay ở San Jose ngày 18/7/2010, đã được hầu hết dàn báo chí nô bộc, bồi bút của đảng Cộng trong nước đồng loạt và liên tục loan tin, lu loa rằng Đàm Vĩnh Hưng bị tấn công khủng bố! Điều nực cười là cách đây không lâu, công an VC bắn chết hai người dân ở Thanh Hóa mà một trong hai người chỉ mới 12 tuổi,

công an Quảng Nam Đà Nẵng đánh chết giáo dân Nguyễn Năm ở Cồn Dầu thì báo chí coi như đui điếc, nếu có một vài tờ báo đăng tin thì đã xuyên tạc, đảo ngược sự thật cho rằng những nạn nhân chết vì “chống người thi hành công vụ!” Vì vậy đến nay thủ phạm là những tên công an sát nhân vẫn nhỡn nhơ chờ thời gian để mọi chuyện sẽ đi vào quên lãng. Không chừng chúng đã được điều động đến nơi khác với cấp chức cao hơn như bao nhiêu vụ trong quá khứ.

Công an lại đánh chết người dân tại trụ sở công an Bắc Giang ngày 25/7/2010 là vụ mới nhất với nhiều hình ảnh dân chúng xuống đường, công an chìm nổi rượt bắn dân trên đường phố thì chẳng phải là “tấn công khủng bố?”

Đó là thứ “nhân quyền khác biệt” như gịong lưỡi của Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Văn Hưởng… trơ tráo trả lời những chính khách phương Tây mỗi khi bị nhắc nhở đến chuyện “VN vi phạm nhân quyền!”

Đó là thứ tự do báo chí vẫn rêu rao đầu cửa miệng Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Tô Huy Rứa, Lê Doãn Hợp…trước những đại hội báo chí, những lễ lạc trao giải thưởng báo chí truyền thông.

Theo bài tường thuật “Lý Tống đối mặt với án tù 5 năm” của ký giả VC Trần Phước Mỹ từ Calli ngày 23/07/2010 ngoài việc lấy “tin từ cảnh sát Santa Clara cho biết số tiền bảo lãnh để tại ngoại hậu tra đối với trường hợp Lý Tống được đề nghị tăng từ 52.000 USD lên đến 100.000 USD. Lý Tống đang đối mặt với 4 tội danh: đột nhập trái phép, sử dụng hơi cay trái phép, chống người thi hành công vụ và hành hung.”

Bài tường thuật ghi lại giọng lưỡi tên Việt gian Lê Quốc Hùng, tổng lãnh sự VC tại San Francisco

“Là người đại diện cho Nhà nước Việt Nam tại đây, tôi rất đau xót khi có người Việt bị tấn công hoặc xâm hại. Tôi càng đau xót hơn khi thủ phạm và nạn nhân cùng là người Việt, cùng là đồng bào của mình.

Về đạo lý, theo tôi biết, nhiều người có mặt tại buổi nhạc hội hôm đó rất bất bình trước hành động thô bạo, vô văn hóa nhắm vào một ca sĩ đang mang tiếng hát của mình phục vụ cho bà con trong cộng đồng. Hành động này chỉ làm tổn hại đến hình ảnh của cộng đồng người Việt ở đây.

Về luật pháp, có thể coi hành động tấn công ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng vừa qua là một âm mưu được toan tính kỹ của cả người thực hiện và những kẻ đứng đằng sau. Xâm hại thân thể công dân là hành vi phạm pháp cần phải đưa ra truy tố.

Bảo hộ công dân là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan đại diện tại địa bàn. Vì vậy, chúng tôi rất quan tâm đến vụ việc này. Ngay khi được tin, chúng tôi đã liên hệ với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và những người tổ chức chương trình để thăm hỏi và tìm hiểu vụ việc. Sau đó, Lãnh sự quán đã có công hàm gửi Văn phòng Đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ tại San Francisco, Sở Cảnh sát Santa Clara và Sở Cảnh sát Anaheim đề nghị họ thực thi các biện pháp cần thiết để bảo đảm an ninh cho ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng cũng như các ca sĩ Việt Nam khác đang biểu diễn tại đây. Lãnh sự quán cũng yêu cầu các cơ quan pháp luật Mỹ có biện pháp xử lý thích đáng đối với những cá nhân, những tổ chức có hành vi phạm pháp vừa qua và những hành vi tương tự sao cho phù hợp với luật pháp Mỹ và thông lệ quốc tế.”(Báo Thanh Niên)

Một cán bộ văn công của đảng chỉ mới nếm chút hơi cay mà tên lãnh sự Lê Quốc Hùng “rất đau xót” sao không thấy tên Việt gian CS nào từ chủ tịch nước, tổng bí thư, thủ tướng cho đến những tên đại sứ, tổng lãnh sự như Lê Quốc Hùng “đau xót” khi người dân bị công an bắn hay đánh chết, công nhân lao động bị hành hạ ở trong hay ngoài nước, những phụ nữ bị bán nô lệ tình dục rồi bị đánh đập, giết hại ở Đài Loan, Nam Hàn, Campuchia, Tầu Cộng…?

Chúng đã biết “lợi dụng tự do dân chủ ở Mỹ” để già mồm bênh vực cho loại cán bộ dù chỉ là tép riu của chúng như Đàm Vĩnh Hưng, còn tất cả người dân VN đều là rác rưởi dù ở đâu chúng chẳng cần thiết phải quan tâm, bận trí!

Hay bởi đã có nhiều tổ chức của người Việt tỵ nạn CS lo cứu giúp chu toàn cho tất cả những trường hợp công nhân VN, nạn nhân buôn người cho nên đảng CS Việt gian rảnh tay để tiếp tục “xuất khẩu lao động”, buôn bán phụ nữ và trẻ em, đàn áp khủng bố nhân dân ở trong nước? Đưa văn công ra hải ngoại thi hành nghị quyết 36?

Xịt một tí hơi cay vào mặt văn công VC là “thô bạo, là vô văn hóa cần phải đưa ra truy tố”? Nhưng cưỡng dâm nữ sinh vị thành niên như hiệu trưởng đảng viên Sầm Đức Xương, chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô thì nạn nhân bị hãm hiếp ngồi tù còn tên chủ tịch đến nay chỉ mới nghe “đình chỉ chức vụ” vì “thiếu gương mẫu trong sinh hoạt!”?

Sàm sở với nữ tiếp viên nhà hàng như bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế là Hồ Xuân Mãn thì được nêu cao thành tích “học tập tốt theo gương đạo đức Hồ Chí Minh!”

“Bảo hộ công dân là chức năng quan trọng của cơ quan đại diện” cho nên Lê Quốc Hùng ngay khi được tin đã “liên hệ với Đàm Vĩnh Hưng và những người tổ chức chương trình để thăm hỏi và tìm hiểu vụ việc. Gởi công hàm cho đại diện bộ ngoại giao Mỹ…”

Thế thì những cơ quan đại diện ở những nơi khác có chức năng gì khi người dân VN bị hành hung, bị đánh giết? Hay chỉ có chức năng bảo vệ những cán bộ đảng viên cần thiết như Đàm Vĩnh Hưng? Rõ ràng có sự liên lạc, cấu kết chặt chẽ giữa các lãnh sự quán, toà đại sứ VC với đám văn công và các bầu sô tổ chức, là những bộ phận đang thi hành nhiệm vụ được đảng giao phó.

Làm sao tin được lời dối láo của Đàm Vĩnh Hưng trong cuộc họp báo “ruồi bu, dơi chuột” lúc 2 giờ trưa ngày Thứ Hai 19 tháng 7 tại phòng hội của khách sạn Ramada thành phố Garden Grove.

Mặc dù “Hưng la lên ‘Rát quá.. rát quá’, vì đau quá Hưng la lớn lên. Lúc đó chị Mỹ Tâm ôm lấy Hưng rồi chùi mặt của Hưng.” Thế nhưng “Hưng thấy người đàn bà đó phóng bỏ chạy và sau đó cảnh sát bắt được”.

Bị đau rát nhưng vẫn mở mắt để nhìn thấy “người đàn bà đó phóng bỏ chạy” và vẫn thấy “sau đó cảnh sát bắt được”

Thực tế qua đoạn phim rõ ràng vệ sĩ của Đàm Vĩnh Hưng thuê mướn đã khống chế “người đàn bà” ngay tại chỗ trong khi “bà” ta còn cố gắng xịt thêm hơi cay nhưng không kịp, không những thế những vệ sĩ nầy đã xô đẩy “người đàn bà” vào vách tường gây thương tích đổ máu, mà miếng băng cho đến hôm nay vẫn còn trên thái dương “người đàn bà” là Lý Tống!

Ở đâu thì người ta cũng “phù thịnh” có phải nước Mỹ đang bảo vệ, che chở cho cường quyền là bọn Việt gian CS đã và đang xâm nhập để quấy nhiễu cộng đồng người Việt tỵ nạn đã hơn một lần trốn chạy khỏi nanh vuốt của chúng?

Đàm Vĩnh Hưng trả lời (báo chí) về vai trò của mình trong “Ủy ban hội liên hiệp thanh niên”:

“…họ (đảng) nhìn thấy ở Hưng và sức ảnh hưởng của Hưng có một mức độ lôi cuốn số khán giả trẻ ở tại Việt Nam. Không phải ở riêng VN mà bất kỳ một nước nào cũng vậy giới trẻ chiếm một số đông và không phải ai cũng là người tốt, những thanh niên bất hảo rất nhiều những người đua xe ma túy cờ bạc không nghề nghiệp. Họ muốn kêu gọi những người thanh niên đó nên sống tốt hơn đẹp hơn để làm giàu cho bản thân mình, gia đình mình cũng như cho quê hương đất nước và họ nhờ tiếng hát của Hưng, sức ảnh hưởng của Hưng để có thể may ra kêu gọi được từ cái sự yêu thương, yêu mến mà trước đây họ dành cho Hưng cho tiếng hát của Hưng với những ca khúc tình cảm thì họ có thể sống đàng hoàng hơn, đó là cái deal và cái mục đích mà Hưng nhận lời để trở thành cái người mà đại diện nói với công chúng, khán giả trẻ, họ muốn dùng ảnh hưởng của mình để nói với thanh niên ở VN nên làm hay làm đẹp. Ngoài ra công việc của Hưng thì chỉ đến những nơi nào đó để gặp các bạn sinh viên, hát cho các bạn nghe, vào những trại giáo dưỡng để hát cho những người lầm đường nghe những bài tình ca cho họ thấy bên ngoài cuộc đời bên ngoài còn đẹp hơn để họ nhanh chóng ra ngoài xã hội.”

Đàm Vĩnh Hưng không dám nói tiếp là “ra hải ngoại để hát cho thanh niên, sinh viên đừng lầm đường chống phá đất nước giàu đẹp” theo như công an Hà Trình:

“…vụ Lý Tống tấn công ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng vừa qua là có liên quan đến ‘chiến dịch’ chống phá Việt Nam của những kẻ bệnh hoạn chống cộng mù quáng ở Mỹ cần phải lên án mạnh mẽ.” (báo công an)

Đó là thứ mồm mép của Việt gian CS: “Đàm Vĩnh Hưng là CS, đảng CS là VN. Chống Đàm Vĩnh Hưng là chống đảng, chống đảng là chống phá Việt Nam!”

“Những người chống cộng ở Mỹ là mù quáng là bệnh hoạn!”

Hoạt động cho cs ở Mỹ như Đàm Vĩnh Hưng, bán nước cho ngoại bang như đảng CS Việt gian mới là lành mạnh, mới là sáng suốt?

Đàm Vĩnh Hưng tự thú nhận và biện bạch: “Nói mà để hát không thì cũng không ai nghe thì họ muốn đưa Hưng vào cái nhân vật mà có trong 60 người thanh niên tiên tiến là những người có cách sống tốt đẹp có sức ảnh hưởng đến công chúng để có sức thuyết phục các thanh niên xấu trở về đường ngay chứ Hưng chẳng có tới mấy cái buổi họp đó bao giờ và cũng chẳng biết cơ quan đó nằm ở nơi đâu. Hưng nhận lời chỉ để hỗ trợ phần hát của mình để gây quỹ làm cái gì đó tốt cho thanh niên chưa tốt”

Rồi Đàm Vĩnh Hưng lòi đuôi dối trá: “Với cái bản tánh của Hưng điên loạn và ngông cuồng thì không có một cái cơ quan nào đơn vị nào chấp nhận một người ngang tàng như Hưng tóc tai vàng nhuộm như vậy ăn mặc sexy rồi phát biểu ngông cuồng láo lếu thì không có một cơ quan nào chấp nhận như thế.”

“Với cái bản tánh điên loạn ngông cuồng, ăn mặc sexy phát biểu ngông cuồng láo lếu” như Đàm Vĩnh Hưng tự nhận lại “có sức thuyết phục các thanh niên xấu trở về đường ngay!” Vì vậy mà “họ (đảng) muốn đưa Hưng vào cái nhân vật mà có trong 60 người thanh niên tiên tiến là những người có cách sống tốt đẹp có sức ảnh hưởng đến công chúng!”

Chỉ trong một đoạn phát biểu, Đàm Vĩnh Hưng đã lộ chân tướng lừa bịp, bất nhất. Câu sau chửi câu trước. Vì chưa được huấn luyện nghiệp vụ đầy đủ.

Chứng tỏ VC đã khéo chọn lọc và sử dụng đúng người đúng việc, một người có chút năng khiếu ca hát như Đàm Vĩnh Hưng, với chút kiến thức đủ gan lì để chịu đựng, bất cố liêm sĩ, miễn được bạo quyền nâng đỡ để hái ra tiền.

Nên khi được hỏi: “nếu phải chọn lựa trình diễn một trong hai show tại hải ngoại, một gây quỹ từ thiện cho VN hai là tranh đấu cho dân chủ ở VN mà thời gian đều thuận tiện cho cả hai thì ca sĩ chọn lựa cái nào...?”

Đàm Vĩnh Hưng không dám dứt khoát: “Hưng sẽ suy nghĩ thật là khó để chọn một trong hai chương trình đó. Khi nào Hưng chọn xong sẽ báo cho mọi người biết.”

Có nghĩa là chờ Đàm Vĩnh Hưng “thỉnh ý lãnh đạo” mới có câu trả lời!

Đàm Vĩnh Hưng cũng như đám văn công chỉ là những con rối dưới sự dẫn dắt điều khiển của “Ủy ban về người Việt định cư ở nước ngoài”, vì vậy như Đàm Vĩnh Hưng khá thành thật: “thật sự họ cũng không có nói cho tụi em biết cái nghị quyết (36) đó là cái gì cả...”

Đúng! Đàm Vĩnh Hưng chỉ là loại robot khỏi cần huấn luyện kỹ, chỉ cần bấm nút điều khiển!

Theo Đàm Vĩnh Hưng “đi hát ở Mỹ không bằng đi hát ở VN, hát ở VN một tuần nhiều hơn một sô ở Mỹ” Thế nhưng hằng năm Đàm Vĩnh Hưng phải qua Mỹ cả chục lần chỉ để “gặp người thân, bạn bè và đi shopping!”

Phụ họa theo luận điệu Việt gian cs, nhiều người cho rằng những văn công cs ra nước ngoài chỉ hát nhạc tình cảm để kiếm tiền.

Đặc công văn nghệ Kim Cương, bọn bút nô nằm vùng Vũ Hạnh, Sơn Nam, Trịnh Công Sơn… trước đây cũng chỉ diễn kịch tình cảm, viết văn tình yêu, quê hương…mặt chuột chỉ lòi ra khi nhà đã cháy rụi!

Văn công cái Ái Vân một thời núp bóng trá hàng để cuốn hút và moi tiền người tị nạn, nay nhiệm vụ đã hoàn thành, thị quay về làm nô công cho đảng. Bây giờ là thời điểm thuận tiên, được Mỹ dung túng, bọn văn công đỏ công khai hoạt động thách thức cộng đồng tị nạn!

*
Họa mất nước đang bên bờ vực thẳm, nước Mỹ dù có thực tâm muốn kéo VN ra khỏi nanh vuốt đại bá Tầu Cộng, cũng khó lòng thay đổi tình thế khi mà bọn trung ương đảng VC chỉ toàn óc chó tim heo!

Bộ trưởng ngoại giao Mỹ, bà Hilary Clinton đến Hà Nội dự hội nghị Asean với thông điệp Mỹ đang trở lại Đông Nam Á, Thái Bình Dương để ngăn chặn đại Hán bành trướng, nhiều “trí thức” trong nước nuôi hy vọng, như tác giả Đinh Hoàn Thắng trong bài “Gặp lại nhau ở tầm cao mới” có đoạn:

“Quá khứ và hiện tại, lý trí và tình cảm, chính trị và đời thường..., tất cả những cặp phạm trù đó rồi đây có còn là xung lực cho mối bang giao, hiện vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong đời sống chính trị của mỗi nước, hay không? Chắc chắn sau chuyến thăm được đánh giá là rất thành công này, bà ngoại trưởng sẽ có những đề xuất chính sách với vị tổng thống của bà. Một chính sách hóa giải toàn diện hy vọng sẽ được số đông ủng hộ, nhưng thiểu số những người chống lại sẽ vẫn còn đó ở mỗi nước.” (Tuần Việt Nam 25/7/2010)

“Một chính sách hóa giải toàn diện” của Mỹ cần sự hợp tác của một khối Asean hợp nhất và vững mạnh, chuyện nầy còn xa vời, một nước Lào hèn yếu, Miến Điện độc tài lệ thuộc Bắc Kinh, một Việt Nam hôm nay đứng với Mỹ, hôm sau qua Bắc Kinh vò đầu tạ tội. Bởi VN không có thực lực lòng dân, sức mạnh của một quốc gia không phải nhờ vào lực lượng công an quá hung bạo thừa sức để đè bẹp toàn dân từ thể xác đến tinh thần.

“Số đông ủng hộ” ở trong nước có vượt qua được trở lực nầy.

Trong khi “những người chống đối” là những tên cầm đầu bán nước với quyết tâm ôm chân bọn cướp nước.

“Những người chống đối” bên ngoài, về phía Mỹ dù có thể chỉ là thiểu số, họ là những chính khách có lương tri, họ đòi hỏi người dân VN phải được tôn trọng.

Về phía “người Việt chống Cộng cực đoan” chắc chắn không có ai tham vọng trở về tranh quyền bính. Rất ít người chống đối vì “lòng thù hận”. Họ chỉ đấu tranh cho một VN thật sự tự do dân chủ, mọi người dân phải được đối xử công bằng. Họ chống lại bất cứ chế độ nào độc tài, khủng bố, buôn dân, bán nước. Dù họ chỉ là “thiểu số.”

Muốn bảo vệ đất nước, muốn phát triển bền vững hài hòa thì VN phải có một chế độ tự do dân chủ thật sự, tam quyền phân lập rõ rệt. Mỹ hãy kiên nhẫn chờ đợi, loay hoay cứu kéo chế độ hiện tại chỉ hao công tốn của mà chẳng thu được kết quả gì!

Nguyễn Duy Ân

+5 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
The Following User Says Thank You to sovo For This Useful Post:
vietnamyeudau

Status: Offline

Nhóm: VMS Member
Tham gia: May 2010
Đến từ:
Bài gởi: 5
vietnamyeudau's Avatar

Đã cám ơn:: 0
Thanked 1 Time in 1 Post

User's Level
Level: Level: 2 - Class: None
EXP: 14/20 (70%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần


 
 
Phải chăng chấp nhận thể chế đa đảng thì Đảng mới trở thành Đảng của dân tộc ?
Cũ 07-30-2010, 03:14 AM   #60

 
Trần Bảo Lộc viết bài xuyên tạc tình hình chính trị ở VN , cho rằng ở VN đang có việc đàn áp mãnh liệt , quy mô lớn vào phong trào dân chủ mà phong trào dân chủ được tập trung mô tả là những người bất đồng chính kiến.
Chưa nói đến ý đồ chính trị và thủ đoạn chính trị xảo quyệt của bài viết , trước hết tác giả Trần Bảo Lộc hoặc chưa có hiểu biết về một nhà nước pháp quyền , hoặc cố tình không phân biệt được dân chủ và kỉ cương . dân chủ và pháp luật . Dưới chế độ do ĐCSVN lãnh đạo chưa bao giờ và không bao giờ có việc xử tù người bất đồng chính kiến cũng như xử tù người theo tôn giáo, mà chỉ có xử tù người vi phạm pháp luật. Chắc Trần Bảo Lộc thừa biết rằng pháp luật nước nào thì cũng cấm tuyên truyền và hành động lật đổ nhà nước cùng chế độ hiện hành . Mọi hành vi phát tán lời kêu gọi và tổ chức lật đổ nhà nước cùng chế độ hiện hành thì ở nước nào cũng đều coi là bất hợp pháp . Nước ta xử tội người chống đối nhà nước , chống đối chế độ thì không phải ngoại lệ .Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật , mọi công dân phải sống theo pháp luật , đó là nhà nước pháp quyền.
Tác giả Trần Bảo Lộc đã nói trước đây ĐCS có công lao to lớn , là Đảng của dân tộc , cốt để xuyên tạc , bôi nhọ rằng hiện nay Đảng không còn là của dân tộc . Và , Trần Bảo Lộc không giấu giếm động cơ cuối cùng của mình là lật đổ ĐCSVN , cũng là lật đổ chế độ hiện nay ở VN . Trần Bảo Lộc đã kêu gọi muốn trở thành Đảng của dân tộc thì “ con đường duy nhất là Đảng phải chấp nhận xây dựng một thể chế dân chủ đa nguyên , đa đảng , không còn điều 4 của hiến pháp hiện nay .”
Phải nói ngay rằng , thực tiễn thế giới hiện nay cho thấy không phải cứ đa đảng thì dân chủ và cứ một đảng thì mất dân chủ. Trên thế giới hiện nay có 40 nước theo chế độ nhất nguyên , một Đảng cầm quyền , ngay như nước gần nước ta như Singgapo cũng chế độ một đảng , nhưng đâu có phải những nước đó đều là mất dân chủ . Vấn đề là tuỳ vào hoàn cảnh , điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước , truyền thống chính trị , văn hoá của từng dân tộc . Điều kiện lịch sự cụ thể của nước ta không có nhu cầu đa đảng . Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta đã xác lập chế độ chính trị nhất nguyên : chỉ có một đảng , đó là ĐCS cầm quyền . Phản ánh thực tế lịch sử , phản ánh ý chí và nguyện vọng của đa số nhân dân , Hiến pháp nước ta đã ghi nhận “ ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và toàn xã hội “ . Vậy chế độ một đảng không phải là ý muốn chủ quan áp đặt của ĐCSVN . Những ai chống lại điều 4 của Hiến pháp thì cũng là chống lại pháp luật hiện hành .
Cần biết rằng đảng phái chính trị thì bao giờ cùng là đảng của một giai cấp , một tầng lớp nhất định , đấu tranh cho lợi ích của giai cấp , tầng lớp ấy . ĐCSVN là đảng của giai cấp công nhân VN , tuy nhiên không chỉ công nhân mới vào đảng mà có nhiều nông dân , nhiều trí thức , thậm chí cá biệt có cả địa chủ , tư sản đã gia nhập Đảng . Đặc biệt Cương lĩnh chính trị của Đảng là đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội , thì đó lại là lợi ích cơ bản của toàn dân tộc . Vì thế từ lâu ĐCSVN vẫn thường chỉ ra rằng Đảng không có lợi ích gì khác ngoài lợi ích của nhân dân , của dân tộc . Không chỉ trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ mà là từ trước đến nay và từ nay về sau ĐCSVN vẫn là đảng của dân tộc VN , đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân , của nhân dân lao động và của toàn dân tộc . ĐCSVN là đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội ngũ tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc .
Lời kêu gọi thực hiện đa đảng để Đảng trở thành của dân tộc như Trần Bảo Lộc chỉ là lời lẽ phi lịch sử , lạc lõng .

Hà Nội 26 tháng 3 năm 2010
Hữu Sơn
(Hưu trí Hà Nội)

+4 EXP




Trả Lời Với Trích Dẫn  
 
 
  Gởi Ðề Tài Mới Trả lời

Bookmarks

Tags
bài, hay, nơi, siêu, tầm, viết


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code is Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt



Múi giờ GMT. Hiện tại là 11:28 PM
Powered by: vBulletin v3.8.2 Copyright ©2000-2010, Jelsoft Enterprises Ltd.

Page Loading Time: